- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Diệp Thị Thủy T: Xác định ông Đinh Văn Y – sinh năm 1983; số CMND: xxxxxxx không phải là cha đẻ của trẻ Đinh Diệp D.K – sinh ngày x/x/201x.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 493/2021/HNGĐ-ST Ngày: 02-11-2021 V/v xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Bích Thảo
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Bảo Lâm
2. Ông Vũ Trung Kiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gấm – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 325/2021/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2021 về tranh chấp ‘‘Xác định cha cho con’’ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Diệp Thị Thủy T, sinh năm 1984; CCCD: xxxxxxxxxx.
Địa chỉ: Đường P, Phường N, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Bị đơn: Ông Đinh Văn Y, sinh năm 1983; số CMND: xxxxxxx.
Điạ chỉ: Chung cư H, Phường B, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn đề nghị vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Văn E, sinh năm 1981; số CMND: xxxxxxx; địa chỉ: Đường I, Phường N, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. ( Có đơn đề nghị vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 05/4/2021 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn – bà Diệp Thị Thủy T trình bày: Bà và ông Đinh Văn Y đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 1146/2018/QĐST-HNGĐ ngày 20/11/2018 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, về phần con chung: “Giao hai con chung tên Đinh Diệp P.A, sinh ngày x/x/201x và Đinh Diệp D.K, sinh ngày x/x/201x cho bà Diệp Thị Thủy T trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết….”. Sau khi ly hôn, bà phát hiện trẻ K không phải là con ruột của ông Y nên đã làm đơn yêu cầu xem xét lại phần con chung của Quyết định nêu trên theo thủ tục tái thẩm. Tại Quyết định tái thẩm số 03/2021/HNGĐ-TT ngày 12/01/2021, Ủy ban thẩm phán của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:’ Hủy một phần quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 1146/2018/QĐST-HNGĐ ngày 20/11/2018 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh (đối với phần xác định cháu Đinh Diệp D.K là con chung của bà Diệp Thị Thủy T và ông Đinh Văn Y). Nay, bà yêu cầu Tòa án xác định ông Y không phải là cha của trẻ K.
Bị đơn – ông Đinh Văn Y trình bày: Ông và bà T đã ly hôn theo Quyết định số 1146/2018/QĐST-HNGĐ ngày 20/11/2018 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình. Ông đồng ý yêu cầu của bà T về việc xác định ông không phải là cha của trẻ K. Về yêu cầu của ông E, ông đề nghị Tòa giải quyết theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Dương Văn E trình bày: Vào khoảng năm 2016, giữa ông và bà T có quan hệ tình cảm trong khi bà T và ông Y vẫn còn quan hệ vợ chồng. Khi bà T phát hiện trẻ K có khả năng là con của ông, ông và trẻ K đã đi giám định AND và kết quả ông là cha của trẻ K. Nay, bà T yêu cầu Tòa án xác định ông Y không phải là cha của trẻ K, ông đồng ý. Đồng thời, ông có yêu cầu độc lập là yêu cầu Tòa án xác định ông là cha của trẻ Đinh Diệp D.K – sinh ngày x/x/201x.
Tại phiên tòa, Bị đơn và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
Nguyên đơn – bà Diệp Thị Thủy T trình bày: Bà vẫn giữ yêu cầu Tòa án xác định ông Đinh Văn Y không phải là cha đẻ của cháu Đinh Diệp D.K – sinh ngày 13/3/2018. Bà cũng đồng ý theo yêu cầu độc lập của ông Dương Văn E. Bà tự nguyện chịu chi phí xét nghiệm AND.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã làm đúng quy định của pháp luật, xét xử đúng hạn luật định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật, người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa. Đề nghị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu của ngưởi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xác định cha cho con đối với ông Y. Do ông Y có nơi cư trú tại quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về việc tham gia phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình: Trong vụ án này, Tòa án có thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn có mặt. Ngày 18/10/2021 và ngày 19/10/2021 bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng có Đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của nguyên đơn về việc xác định bị đơn không phải là cha đẻ của cháu Đinh Diệp D.K – sinh ngày x/x/201x: Theo lời xác nhận của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và ông Y cũng đồng ý yêu cầu của bà T. Căn cứ Kết luận giám định số 3279/C09B ngày 14 tháng 7 năm 2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh thì: ‘‘Ông Đinh Văn Y không có mối quan hệ huyết thông cha – con với Đinh Diệp D.K’. Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở xác định ông Y không phải là cha đẻ của cháu K. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T.
Về yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc xác định ông là cha đẻ của cháu Đinh Diệp D.K – sinh ngày x/x/201x, Hội đồng xét xử xét thấy:
Phía nguyên đơn trình bày, do có sự nghi ngờ trẻ K không phải là con của ông Y mà là con của ông E nên bà đã đề nghị ông Biểu tự tiến hành giám định ADN. Tai phiếu kết quả phân tích ADN của Công ty Cổ phần Dịch vụ phân tích di truyền (Gentis) ngày 10/4/2019 xác định giữa ông Dương Văn E và trẻ K có quan hệ huyết thống cha – con. Theo Kết luận giám định số 3279/C09B ngày 14 tháng 7 năm 2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh thì ‘‘Ông Dương Văn E có mối quan hệ huyết thống cha – con với Đinh Diệp D.K”
Như vậy, trước khi Tòa án thụ lý giải quyết, phía ông E và trẻ K đã thực hiện giám định AND và có kết quả hai người có quan hệ huyết thống cha – con. Nay, với kết luận giám định của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về chi phí xét nghiệm ADN: Nguyên tự nguyện chịu toàn bộ chi phí giám định ADN đã được thực hiện tại Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được miễn nộp tiền án phí, hoàn trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 21; Khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 88 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- Căn cứ vào Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Diệp Thị Thủy T: Xác định ông Đinh Văn Y – sinh năm 1983; số CMND: xxxxxxx không phải là cha đẻ của trẻ Đinh Diệp D.K – sinh ngày x/x/201x.
2/ Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Dương Văn E: Xác định ông Dương Văn E – sinh năm 1981; số CMND: xxxxxxx là cha đẻ của trẻ Đinh Diệp D.K – sinh ngày x/x/201x.
3/ Chi phí giám định AND là 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng) do nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ. Nguyên đơn đã nộp đủ.
4/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Diệp Thị Thủy T đươc miễn nộp tiền án phí.
- Ông Dương Văn E đươc miễn nộp tiền án phí nên hoàn lại cho ông E tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0069518 ngày 24/5/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
5/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
6/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
7/ Về quyền kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự ./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.TB; - CCTHADS Q.TB; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ (…). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Bích Thảo |