vanban.org

Bản án 492/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 01/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần M S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần M S 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo S cho UBND xã Hà Giang, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần M S trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần M S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 492/2022/HSST
Ngày: 01/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mạnh Cẩm Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đỗ Thị Thái

Bà Công Thị Minh Lợi

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hà – Thư ký Toà án nhân nhân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Cù Quốc Chuyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 507/HSST ngày 18/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 524/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần M S; Sinh năm: 1992; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn Lương Đống, xã Hà Giang, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần M T, sinh năm 1969 và bà: Đặng T L, sinh năm 1969; Gia đình có 02 con, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Đ T L, sinh năm 1991 và 01 con sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không. Danh chỉ bản số 568 lập ngày 21/7/2022 tại Công an huyện Sóc S.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần M S cùng anh Phạm V T, sinh năm 1996 và anh Trần T T sinh năm 1984 là nhân viên phục vụ hành lý của Công ty cổ phần phục vụ mặt đất Hà Nội (HGS) địa chỉ Cảng hàng không Quốc tế Nội Bài ở xã Phú Cường, huyện Sóc S, Hà Nội. Trong đó, S và anh Phạm V T và nhân viên phục vụ bốc xếp hành lý, còn anh Trần T T làm trưởng ca trực nhân viên bốc xếp.

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 14/6/2022, S và anh Phạm V T được phân công bốc xếp hành lý của hành khách trên chuyến bay mang số hiệu QH451 của hãng Bamboo Airways, chặng bay từ Hàn Quốc – Sân bay Quốc tế Nội Bài. Trong lúc S và anh Phạm V T bốc xếp hành lý để trả cho khách tại băng chuyển tải số 6, đảo hành lý nhà ga T2 thì S và anh Phạm V T phát hiện 01 balo màu đen của hành khách Han Gik Won (sinh năm 1972, Quốc tịch Hàn Quốc, trú tại Busan, Bukgu, Geumgok, Daer 166, 602 dong. Room 2003) bị bung khóa và rơi tiền (đồng Won, tiền Hàn Quốc) ra ngoài nên đã gom tiền lại, để balo và tiền xuống đất. Sau đó, S ở lại trông hành lý còn anh Phạm V T đi báo cáo sự việc cho anh Trần T T biết. Khi thấy anh Phạm V T đi khuất, S quan sát thấy xung quanh vắng người nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền của anh Han Gik Won bị rơi nên đã lấy 07 tờ tiền mệnh giá 50.000 Won (tổng số tiền là 350.000 Won) giấu vào áo và kẹp ở nách bên trái. Sau khi nhận được báo cáo từ anh Phạm V T, anh Thanh Tuấn tiếp tục báo cáo sự việc đến Trung tâm An Ninh hàng không. Tổ công tác của An ninh hàng không đã mời ông Han đến nhận và kiểm kê tài sản. Sau khi ông Han xác định bị mất tài sản, tổ công tác của An ninh hàng không đã tiến hành kiểm tra người S thì phát hiện tại túi áo ngực bên trái và trong nách bên trái của S có 07 tờ tiền Hàn Quốc (tương ứng với số tiền là 350.000 Won) nên đã tiến hành lập biên bản ghi nhận sự việc và bàn giao S cùng vật chứng cho Cơn quan công an giải quyết.

Tại bảng giá quy đổi trong ngày 14/6/2022 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam xác định quy đổi 350.000Won sang tiền Việt Nam là 5.656.000 đồng.

Quá trình xác minh nguồn tin, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc S dã Trưng cầu người phiên dịch là bà Ninh Thị Quỳnh Anh phiên dịch cho ông Han. Tại cơ quan điều tra, ông Han trình bày: Khoảng 13 giờ 35 phút ngày 14/6/2022, ông Han hạ cánh ở sân bay Nội Bài trên chuyến bay QH0451. Khi xuống sân bay, ông Han không tìm thấy hành lý là 01 balo màu đen nên đã liên hệ với nhân viên sân bay và được mời đến khi vực quản lý hàng hóa để nhận lại chiếc balo. Trước đó, ông Han cất trong balo số tiền 1.600USD, 2.500.000 đồng tiền Việt Nam và khoảng 3.0000.000Won, khi kiểm tra lại thì số tiền USD và tiền Việt Nam không bị mất, chỉ còn 2.150.000Won, ông Han không biết chính xác mình bị mất bao nhiêu tiền vì trước đó ông đã tiêu sài cá nhân trong tổng số 3.000.000Won ban đầu.

Ngày 17/6/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc S đã xử lý vật chứng trao trả số tiền 350.000Won cho ông Han. Sau khi nhận lại tài sản ông Han không yêu cầu về phần bồi thường dân sự và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Trần M S.

Cáo trạng số 454/CT-VKSHN-P2 ngày 09/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố Trần M S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Trần M S khai nhận hành vi của mình đúng như Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố và đồng ý với luận tội của kiểm sát viên. Bị cáo S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng án treo để bị cáo có hội cải tạo ngoài xã hội và chăm sóc vợ con vì vợ bị cáo không có nghề nghiệp, con bị cáo mới 2 tháng tuổi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và luận tội: Căn cứ vào các lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng truy tố bị cáo Trần M S phạm tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 173; các điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần M S 06 – 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 – 18 tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Trần M S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải. Lời khai của bị cáo S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các vật chứng thu được, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:

Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 14/6/2022, tại khu vực băng chuyền tải số 06, đảo hành lý nhà ga T2, cảng hàng không quốc tế Nội Bài ở xã Phú Cường, huyện Sóc S, Hà Nội, lợi dụng việc được phân công bốc xếp hành lý của hành khách, S đã lén lút chiếm đoạt của ông Han Gik Won 350.000Won tiền Hàn Quốc (tương đương với số tiền 5.656.000 đồng tiền Việt Nam). Khi bị ông Han phát hiện mất tài sản, lực lượng An ninh hàng không sân bay đã kiểm tra người S và thu giữ số tiền 350.000Won trả lại cho bị hại.

Hành vi trên của bị cáo S đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội.

Hành vi phạm tội của bị cáo S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.

[3]. Về hình phạt với bị cáo:

Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo S phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi bị bắt và quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo S đã tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy có thể xem xét cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[4]. Về xử lý vật chứng:

Vật chứng thu giữ là số tiền 350.000Won S chiếm đoạt của ông Han Gik Won, Cơ quan điều tra đã trao trả cho bị hại là ông Han, ông Han đã xuất cảnh về Hàn Quốc và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần M S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1, Điều 173; các điểm b,i,s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần M S 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo S cho UBND xã Hà Giang, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1, Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu các bị cáo vi phạm nghĩa vụ từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần M S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Trần M S có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ