vanban.org

Bản án 492/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: không công nhận giữa chị Trần Thị Hồng L với anh Cù Văn N là vợ chồng.

Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Hồng L được tiếp tục nuôi cháu Trần Thị Nhã V, sinh ngày 18/4/2016. Công nhận sự tự nguyện nuôi con của chị L mà không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Chị L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh N trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hồng L, sinh năm 1983 - Bị đơn: Anh Cù Văn N, sinh năm 1982"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: không công nhận giữa chị Trần Thị Hồng L với anh Cù Văn N là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TAN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 492/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 13/11/2019
V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn và nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH ANGIANG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Dũng;

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Công Minh, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 302/2019/TLST-HNGĐ ngày 29/7/2019 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 502/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 532/2019/QĐST-HN ngày 23/10/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hồng L, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Tổ 7, ấp Long Hiệp, xã Long An, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; có mặt.

- Bị đơn: Anh Cù Văn N, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Tổ 13, ấp Long Hiệp, xã Long An, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 16/7/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Trần Thị Hồng L trình bày: Giữa chị Trần Thị Hồng L với anh Cù văn N quen biết nhau, yêu nhau và tự về sống chung với nhau vào năm 2008 nhưng hai người không có đăng ký kết hôn và cũng không tổ chức lễ cưới, hai người sống hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn là do kinh tế khó khăn, anh N thường xuyên rựu chè về chửi mắng chị, hàng ngày không lo gì cho vợ con, có lúc anh N còn đòi giết cả cha mẹ chị và hai người sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị L xin được ly hôn với anh N.

- Về con chung: Chị L với anh N có một đứa con chung tên Cù Thị Nhã V, sinh ngày 13/4/2016 con đang sống với chị L, khi ly hôn chị L yêu cầu được nuôi con và chị L yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Chị L khai, chị với anh N không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị L khai, chị với anh N không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong suốt quá trình tố tụng, anh Cù Văn N được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh N vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình.

Biên bản xác minh ngày 23/9/2019 của bà Phan Thị H là mẹ ruột chị L cung cấp về tình trạng hôn nhân của chị L với anh N thể hiện: Chị Trần Thị Hồng L với anh Cù Văn N tự về sống chung với nhau vào năm 2008 nhưng hai người không có đăng ký kết hôn và cũng không tổ chức lễ cưới. Trong quá trình chung sống anh N ăn nhậu rựu chè và không lo cho vợ con, anh N có lúc súc phạm đến vợ chồng bà.

Kể từ đó chị L với anh N xảy ra mâu thuẫn, hai người không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay. Theo bà H giữa chị L với anh N sống không có hạnh phúc Tòa án cho hai người ly hôn là hợp lý.

Biên bản xác minh ngày 23/9/2019 của Công an xã Long An thể hiện: Anh Cù Văn N có hộ khẩu tại tổ 07, ấp Long Hiệp, xã Long An, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, hiện anh N vẫn còn hộ khẩu tại địa chỉ trên. Anh N đi làm ăn xa không có mặt ở địa phương, anh N không thuộc trường hợp bỏ địa phương trên 06 tháng

Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải nhưng không thực hiện được do anh N vắng mặt.

Hội đồng xét xử công bố hai biên bản xác minh cùng ngày 23/9/2019 của bà Phan Thị H và Công an xã và UBND xã Long An.

Tại phiên tòa, chị L giữ nguyên yêu cầu, anh N vắng mặt,

Chị L xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác; anh N không cung cấp chứng cứ.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về giải quyết vụ án, chị Trần Thị Hồng L với anh Cù Văn N không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, năm 2018 giữa chị L với anh N phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, sống không hiểu nhau và hai người không còn sống chung đến nay. Do hai người không có đăng ký kết hôn. Căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị không công nhận giữa chị L với anh N là vợ chông.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị L với anh N có 01 con chung tên Trần Thị Nhã V, sinh ngày 18/4/2016 con đang sống với chị L. Đề nghị giao cho chị L nuôi và anh N phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền: Chị Trần Thị Hồng L khởi kiện “Tranh chấp hôn nhân, gia đình, ly hôn và nuôi con chung” với anh Cù Văn N, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Tổ 13, ấp Long Hiệp, xã Long An, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Xét, quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.

Sự vắng mặt của đương sự: Anh Cù Văn N vắng mặt, không lý do. Biên bản xác minh ngày 23/9/2019 của Công an xã Long An thể hiện: Anh Cù Văn N có hộ khẩu tại tổ 7, ấp Long Hiệp, xã Long An, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, hiện anh N vẫn còn hộ khẩu tại địa chỉ trên. Anh N đi làm ăn xa không có mặt ở địa phương, anh N không thuộc trường hợp bỏ địa phương trên 06 tháng. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Trần Thị Hồng L với anh Cù văn N quen biết nhau, yêu nhau và tự về sống chung với nhau vào năm 2008 nhưng hai người không có đăng ký kết hôn và cũng không tổ chức lễ cưới, hai người sống hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn là do kinh tế khó khăn, anh N thường xuyên rựu chè về chửi mắng chị, hàng ngày không lo gì cho vợ con, có lúc anh N còn đòi giết cả cha mẹ chị và hai người sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị L xin được ly hôn với anh N.

Biên bản xác minh ngày 23/9/2019 của bà Phan Thị H là mẹ ruột chị L cung cấp về tình trạng hôn nhân của chị L với anh N thể hiện: Chị Trần Thị Hồng L với anh Cù Văn N tự về sống chung với nhau vào năm 2008 nhưng hai người không có đăng ký kết hôn và cũng không tổ chức lễ cưới. Trong quá trình chung sống anh N ăn nhậu rựu chè và không lo cho vợ con, anh N có lúc súc phạm đến vợ chồng bà.

Kể từ đó chị L với anh N xảy ra mâu thuẫn, hai người không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay. Theo bà H giữa chị L với anh N sống không có hạnh phúc Tòa án cho hai người ly hôn là hợp lý.

Như vậy cho thấy giữa chị L với anh N, hai sống chung với nhau vào năm 2008 và sống chung với nhau kéo dài đến năm 2018, khi đó cả hai người đều đã đến tuổi đăng ký kết hôn. Nhưng giữa chị L với anh N không thực hiện nghĩa vụ đi đăng ký kết hôn, nên quan hệ giữa chị L với anh N không làm phát sinh nghĩa vụ vợ chồng theo quy định tại khoản 1, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, HĐXX nên tuyên không công nhận giữa chị L với anh N là vợ chồng, phù hợp pháp luật.

Về con chung: Chị L khai, trong thời kỳ sống chung, chị L với anh N có 01 con chung tên Trần Thị Nhã V, sinh ngày 18/4/2016 con đang sống với chị L, khi ly hôn chị L yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Xét, cháu V đang sống chung với chị L từ năm 2016 đến nay, cháu V là bé gái và còn nhỏ điều kiện chị L chăm sóc là phù hợp. Xét giao cho chị L nuôi dưỡng là hợp lý.

Xét, chị Loan yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi cháu V là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc anh Cù Văn N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 800.000 đồng, thời gian cấp dưỡng được tính kề từ ngày 13/11/2019 cho đến khi cháu V trưởng thành.

Tại phiên tòa chị L xin thay đổi yêu cầu. Chị L tự nguyện nuôi con mà không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy hợp lý được công nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị L khai giữa chị với anh N không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết. Xét, không đặt ra giải quyết. Nếu sau này anh N cho rằng trong thời gian chung sống giữa hai người có tài sản hoặc nợ chung thì anh N vẫn có quyền khởi kiện chị L yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị Hồng L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; anh Cù Văn Nam không phải chịu tiền án phí.

(Theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 14 Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

Về hôn nhân: không công nhận giữa chị Trần Thị Hồng L với anh Cù Văn N là vợ chồng.

Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Hồng L được tiếp tục nuôi cháu Trần Thị Nhã V, sinh ngày 18/4/2016. Công nhận sự tự nguyện nuôi con của chị L mà không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Chị L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh N trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Nếu sau này anh Cù Văn N cho rằng trong thời gian chung sống giữa hai người có tài sản hoặc nợ chung thì anh N vẫn có quyền khởi kiện chị L yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Hồng L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0002004 ngày 29 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu.

Anh Cù Văn Nam không phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Trần Thị Hồng L có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Thời hạn kháng cáo của anh Cù Văn N là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ