- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Trung K phạm tội “Giết người” - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Trung K và không
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 491/2021/HS-PT Ngày 13 – 12 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Đình Thanh
Các thẩm phán:
Ông Phan Đức Phương
Bà Phạm Thị Duyên
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Đức Anh – Thư ký Toà án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên toà: Ông Phạm Ba Duy – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau,
Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 135/2021/TLPT-HS ngày 23 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo Huỳnh Trung K do có kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2021/HS-ST ngày 13/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Bị cáo có kháng cáo:
Huỳnh Trung K, sinh năm 1999, tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp TH, xã
Khánh Bình Tây, huyện TVT, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Chí Th và bà Mai Kim L; bị cáo sống chung như vợ chồng với Võ Thùy Tr (bị hại trong vụ án); con: Không; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt ngày 16/9/2020, (có mặt).
Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo: Ông Trần Đức Tiến – Luật sư,
Văn phòng luật sư Trần Đức Tiến thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau, (có mặt).
- Bị hại có kháng cáo: Chị Võ Thùy Tr, sinh năm 2002; địa chỉ: Ấp 4, xã
KH, huyện UM, tỉnh Cà Mau, (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
nhưng không có kháng cáo Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Trung K và Võ Thùy Tr sống với nhau như vợ chồng từ tháng 02
năm 2020 nhưng không đăng ký kết hôn. Cả hai chung sống tại nhà ông Võ Trọng Ng và bà Nguyễn Thị Kh (cha, mẹ ruột của Tr) ấp 4, xã KH, huyện UM.
Khoảng 22 giờ ngày 14/9/2020, K và Tr vào mùng ngủ thì Tr gọi điện
thoại nói chuyện với Nguyễn Thị Mộng T (bạn của Tr). T hỏi chuyện con cái, Tr nói: Vợ chồng còn nghèo, sống nay mai thôi mà con cái gì. Tr tiếp tục nói: Muốn đi Đồng Nai làm thuê. Nghe vậy, K không đồng ý nên Tr và K cự cãi. K nói: Nếu Tr đi thì K tự đâm K và đâm Tr chết luôn. Nói xong, K ra khỏi mùng, đến khu vực nhà bếp lấy cây dao loại cán nhựa màu tím dài 9cm, lưỡi kim loại trắng dài 07cm, mũi nhọn – sắc vào ngồi kế bên phải của Tr và tiếp tục cự cãi. Lúc này, Tr có lời nói thách thức nên K kề dao vào cổ của Tr, Tr chỉ vào ngực của Tr và nói: Mày đâm vô đây nhiều máu lắm nè. Lúc này K cầm dao “nhá nhá” vào ngực của K. Tr tiếp tục nói: Bản thân mày mày không yêu thương thì yêu thương ai, trước sau gì tao cũng bỏ sớm à. Nói xong Tr xoay người qua bên trái. Ngay lập tức K dùng tay trái nắm vai Tr kéo ngửa ra, tay phải cầm dao đâm liên tiếp 03 nhát vào vùng ngực trái của Tr trong tư thế Tr đang nằm ngửa trên giường. Ngay khi bị đâm máu chảy ra, Tr ngồi bật dậy kêu K đi lấy bông gòn. K cầm dao đi đến khu vực sau bếp bỏ dao lại chỗ cũ và chạy lên khu vực phòng ngủ của vợ chồng ông Nghĩa cho hay là K đã đâm Tr. Sau đó, K cùng ông Ng và bà Kh đưa Tr đến Trạm y tế xã KH sơ cứu, rồi chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cà Mau điều trị. Đến ngày 02 tháng 10 năm 2020, Tr xuất viện. Ngày 15 tháng 9 năm 2020, K đến Công an huyện UM đầu thú.
- Kết luận giám định pháp y về thương tích số 223/TgT-20 ngày
23/9/2020 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Cà Mau, đối với Võ Thùy Tr:
+ 01 vết thương khoảng liên sườn I đường trung đòn trái, kích thước:
1,5cm x 0,1cm; Tỷ lệ 01%. Do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.
+ 01 vết thương khoảng liên sườn II đường trung đòn trái, kích thước:
01cm x 0,1cm; Tỷ lệ 01%. Do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.
+ 01 vết thương khoảng liên sườn III đường trung đòn trái, kích thước:
1,5cm x 0,1cm; Tỷ lệ 01%. Do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.
+ 01 vết phẫu thuật từ đường trung đòn trái đến đường nách giữa trái liên
sườn V-VI, kích thước: 15cm x 0,1cm; Tỷ lệ 02%.
+ 01 vết dẫn lưu khoảng liên sườn VI-VII đường nách giữa trái, kích
thước: 01cm x 01cm; Tỷ lệ 02%.
+ 01 vết dẫn lưu khoảng liên sườn V-VI đường trung đòn trái, kích
thước: 01cm x 01cm; Tỷ lệ 02%.
+ Thủng nhĩ phải; Tỷ lệ 51% (chưa biến chứng). Do vật sắc hoặc vật sắc
nhọn gây ra. Vết thương thủng nhĩ phải nguy hiểm đến tính mạng nếu không điều trị kịp thời.
+ Phẫu thuật cắt liên sườn V bên trái; Tỷ lệ 01%.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám
định tính theo Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế là 56%.
- Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:
+ 01 cây dao dài 16cm, cán nhựa màu đỏ dài 9cm, lưỡi kim loại màu
trắng dài 7cm bị cong vênh, trên lưỡi ghi nhận “STAINLESS”, đã qua sử dụng;
+ 01 cây dao dài 16cm, cán nhựa màu tím dài 9cm, lưỡi kim loại màu
trắng dài 7cm, trên lưỡi ghi nhận “STAINLESS”, đã qua sử dụng;
+ 01 cái gối màu trắng (không có áo gối), kích thước 46cm x 33cm có
vết màu nâu đỏ (nghi máu), đã qua sử dụng;
+ 01 cái mùng màu hồng, có bông hoa kích thước 2m x 2m x 1,8m, đã
qua sử dụng;
+ 01 quần vải (loại quần sọt) màu xanh dương đậm, phía trước túi quần
bên trái có tem màu trắng, trên tem có dòng chữ “VO GUE” đã qua sử dụng;
+ 01 cái áo màu cam, vải thun, loại áo dây, ở thân trước bên trái có thủng
3 lỗ, lỗ thứ nhất cách mép cổ áo 2 cm, từ lỗ thứ nhất đến lỗ thứ 2 theo hướng từ mép cổ áo đi xuống 4 cm, từ lỗ thứ hai đến lỗ thứ 3 theo hướng từ mép cổ áo đi xuống 2 cm; ở thân áo phía trước bị cắt từ mép cổ áo xuống đến vạt áo và hai vai áo bị cắt ngang.
Tại Cáo trạng số: 52/CT-VKS-P1 ngày 24/11/2020, Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Cà Mau truy tố Huỳnh Trung K về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2021/HS-ST ngày 13/01/2021, Tòa án
nhân dân tỉnh Cà Mau đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trung K phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều
51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Trung K 12 (mười hai) năm tù; thời hạn tù được
tính từ ngày 16/9/2020.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí
hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 14/01/2021, bị cáo Huỳnh Trung K có đơn kháng cáo kêu oan,
không đồng ý về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều của 123 Bộ luật Hình sự.
Ngày 15/01/2021, bị hại Võ Thùy Tr kháng cáo không ý với Bản án sơ
thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Trung K về tội “Giết người” vì hành vi của bị cáo chỉ nhằm gây ra thương tích của bị hại; đồng thời, bị hại cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo K 12 năm tù là quá nặng, nên yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Huỳnh Trung K và bị hại Võ Thùy Tr vẫn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu quan điểm của
Viện kiểm sát:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Huỳnh Trung K phạm tội “Giết
người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Mức án 12 (mười hai) năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo K là tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, đủ tác dụng giáo dục cải tạo riêng và răn đe, phòng ngừa chung. Bị cáo Huỳnh Trung K và bị hại Võ Thùy Tr kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết nào mới nên không có cơ sở để chấp nhận; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bị cáo và bị hại; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Huỳnh Trung K trình bày:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Huỳnh Trung K phạm tội “Giết
người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng với hành vi phạm tội của bị cáo, không oan sai. Tuy nhiên, bị cáo K có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định; hậu quả chết người chưa xảy ra; hơn nữa, bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về với gia đình và hòa nhập với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Trung K và bị hại Võ Thùy Tr nộp
trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ
vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án ở giai đoạn sơ thẩm,
Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, các hành vi, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Huỳnh Trung K đã được Luật sư bào chữa theo quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Trung K và kháng cáo của bị hại Võ
Thùy Tr về tội danh và hình phạt đối với bị cáo K như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Trung K và bị hại Võ Thùy
Tr thống nhất xác định, hai người không đăng ký kết hôn nhưng đã sống với nhau như vợ chồng từ tháng 02/2020 tại nhà của cha, mẹ ruột của Tr tại ấp 4, xã KH, huyện UM, tỉnh Cà Mau. Đến khoảng 22 giờ ngày 14/9/2020, trong khi đã vào mùng ngủ, Tr có gọi điện thoại nói chuyện qua lại với bạn của Tr, về chuyện con cái thì Tr nói: Vợ chồng còn nghèo, sống nay mai thôi mà con cái gì; đồng thời, Tr có nói: Muốn đi Đồng Nai làm thuê. Nghe vậy, K không đồng ý nên Tr và K đã xảy ra cự cãi. K nói: Nếu Tr đi thì K tự đâm K và đâm Tr chết luôn. Nói xong, K ra khỏi mùng, đến khu vực nhà bếp lấy cây dao loại cán nhựa màu tím dài 9cm, lưỡi kim loại trắng dài 07cm, mũi nhọn – sắc vào ngồi kế bên phải của Tr và tiếp tục cự cãi. Tr tiếp tục nói: Bản thân mày mày không yêu thương thì yêu thương ai, trước sau gì tao cũng bỏ sớm à. Nói xong Tr xoay người qua bên trái. Ngay lập tức K dùng tay trái nắm vai Tr kéo ngửa ra, tay phải cầm dao đâm liên tiếp 03 nhát vào vùng ngực trái của Tr trong tư thế Tr đang nằm ngửa trên giường.
Xét lời khai nhận của bị cáo Huỳnh Trung K và bị hại Võ Thùy Tr tại
phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo và bị hại tại phiên tòa sơ thẩm và tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án. Qua đó có đủ cơ sở xác định, việc cự cãi giữa K và Tr xảy ra trong cuộc sống chung giữa hai người như trên là không gay gắt, không nghiêm trọng, nhưng để thỏa mãn sự tức giận bị cáo K đã sử dụng dao lưỡi dài 07cm, nơi rộng nhất 1,3cm, mũi nhọn và sắc đâm liên tục 03 nhát vào ngực trái của bị hại Tr. Bị cáo biết rõ việc dùng dao đâm nhiều nhát vào ngực trái của bị hại sẽ gây nguy hại đến tính mạng của bị hại, nhưng bị hại chỉ bị thương tích 56% là ngoài ý muốn của bị cáo.
Từ hành vi như trên, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Huỳnh Trung K
phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, không oan cho bị cáo.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Trung K như trên là đặc
biệt nghiêm trọng, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 12 (mười hai) năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, đủ đảm bảo cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo K theo đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Trung K kháng cáo kêu
oan; bị hại Võ Thùy Tr kháng cáo không ý với việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo K về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều của 123 Bộ luật Hình sự với lý do bị cáo K chỉ cố ý gây thương tích cho bị hại và cho rằng mức án 12 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo K là quá nặng, không đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo Huỳnh Trung K và bị hại Võ Thùy Tr không đưa ra được tình tiết nào mới, nên kháng cáo của bị cáo và bị hại là không có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Trung K và không chấp nhận kháng cáo của bị hại Võ Thùy Tr, giữ nguyên quyết định về tội danh và hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo K.
Những ý kiến, quan điểm đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo
Huỳnh Trung K tại phiên tòa phúc thẩm, do không phù hợp với phân tích và nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử phúc thẩm, nên không được chấp nhận.
Về án phí hình sự phúc thẩm.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo K phải chịu án phí hình
sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không
bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Trung K và không
chấp nhận kháng cáo của bị hại Võ Thùy Tr; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2021/HS-ST ngày 13/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trung K phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều
51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Trung K 12 (mười hai) năm tù; Thời hạn tù được
tính từ ngày 16/9/2020.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Huỳnh Trung K để đảm bảo thi hành án.
2- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Huỳnh Trung K phải nộp 200.000
(hai trăm nghìn) đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án là ngày 13
tháng 12 năm 2021./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau; - Cục THADS tỉnh Cà Mau; - Trại tạm giam Công an tỉnh Cà Mau; (tống đạt cho bị cáo); - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu: HS, TK (21b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đình Thanh |