- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! Bản án số: 491/2020/HS-PT ! Ngày: 25-9-2020 |
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:!
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Nguyễn Văn Hà
Các"Thẩm"phán:" 1. Bà Huỳnh Thị Việt Tiên
2. Bà Nguyễn Hoàng Anh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:"Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên."
Ngày 25 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 349/2020/TLPT-HS ngày 27/7/2020 đối với bị cáo Nguyễn Xuân H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2020/HSST ngày 16/6/2020 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị"cáo"có"kháng"cáo:"
Nguyễn!Xuân!H; giới tính: nam; sinh năm: 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; cư trú: 268M LT, phường LT, quận TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Dạy patin; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông NVH và bà NTXM; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 15/01/2020, Nguyễn Xuân H cùng chị Nguyễn Thị Thùy T cùng dạy patin cho trẻ em tại công viên Chung cư The Sun Avenue, địa chỉ 28 MCT, phường AP, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, H kêu chị T lấy điện thoại hiệu Samsung Note 10 plus để H quay lại quá trình chị T dạy patin. Sau khi quay xong, H cất điện thoại vào túi xách cho chị T. Thấy điện thoại của chị T đẹp nên lợi dụng lúc T không để ý, H lấy điện thoại trên, tắt nguồn sau đó giấu vào trong người. Đến 21 giờ cùng ngày chị T phát hiện điện thoại mất nên trình báo công an.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 40/ HĐĐGTS-TCKH ngày 18/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 2 kết luận: Điện thoại Samsung Note 10+ có giá trị còn lại là 13.800.000 đồng. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2020/HSST ngày 16/6/2020 của Tòa án nhân dân Quận 2 đã quyết định:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. + Xử phạt bị cáo: Nguyễn Xuân H 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo. Ngày 18/6/2020, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm nêu quan điểm kết luận cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, bị hại có đơn bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách nhất định.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng nghị trong hạn luật định nên hợp lệ. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nội dung bản án sơ thẩm đã nêu, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 30 ngày 15/01/2020 lợi dụng lúc chị Nguyễn Thị Thùy T không để ý, bị cáo đã lén lút lấy 01 điện thoại Samsung trị giá 13.800.000 đồng để sử dụng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội "Trộm cắp tài sản" là xét xử đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, cấp phúc thẩm xem xét bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện ăn năn, hối cải; tài sản trộm cắp đã thu hồi trả cho bị hại nên chưa gây thiệt hại; trước phiên tòa bị hại có đơn bãi nại. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tuổi đời còn trẻ, phạm tội do bộc phát nên xét không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo. Vì"các"lẽ"trên;"
QUYẾT!ĐỊNH!
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn!Xuân!H. Sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt bị cáo: Nguyễn!Xuân!H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 01 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm
Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là Ủy ban nhân dân phường Linh Trung, quận Thủ Đức giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo).
| Nơi nhận: - TAND Tối Cao; (1) - TAND Cấp Cao tại Tp. HCM (1) - VKSND Tp.HCM; (3) - VKSND Quận 2; (1) - Chi cục THA Quận 2; (1) - TAND Quận 2; (2) - Công an Quận 2; (1) - Phòng PC 53 - CA Tp. HCM; (1) - Bị cáo; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu, hình sự, hồ sơ. (18) (4) | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! Nguyễn!Văn!Hà |