vanban.org

Bản án 491/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lê Công D.

Về hôn nhân: Anh Lê Công D được ly hôn với chị Phạm Thị Trà M. Giấy chứng nhận kết hôn số 149/HT, quyển 01/2014 ngày 19/12/2014 do UBND xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang cấp cho anh Lê Công D với chị Phạm Thị Trà M không còn giá trị pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Anh Lê Công D, sinh năm 1989 -Bị đơn: Chị Phạm Thị Trà M, sinh năm 1996"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lê Công D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TAN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 491/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 13/11/2019
V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH ANGIANG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Nguyễn Quốc Dũng;

2. Bà: Nguyễn Thị Mỹ Duyên.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Công Minh, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 311/2019/TLST-HNGĐ ngày 01/8/2019 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 505/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 531/2019/QĐST-HN ngày 23/10/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Công D, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Số 17a lộ nông thôn, tổ 2, ấp 4, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; có mặt

2. Bị đơn: Chị Phạm Thị Trà M, sinh năm 1996; địa chỉ cư trú: Số 17a lộ nông thôn, tổ 2, ấp 4, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 23/7/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Lê Công D trình bày: Giữa anh D với chị Trà M được người lớn mai mối, cha mẹ hai bên đồng ý, anh chị kết hôn với nhau vào năm 2015, có tổ chức lễ cưới và anh chị đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 149/HT, quyển 01/2014 ngày 19/12/2014. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại nhà cha mẹ anh D. Đến năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, chị Trà M đã bỏ đi và hai người không còn sống chung từ đó đến nay. Tình cảm của anh D đối với chị Trà M không còn, yêu cầu ly hôn với chị Trà M.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh D với chị Trà M có 01 con chung tên Lê Xuân H, sinh ngày 16/10/2015, hiện đang sống với chị Trà M. Khi ly hôn anh D đồng ý giao con cho chị Trà M nuôi dưỡng và anh D không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh D khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong suốt quá trình tố tụng, chị Phạm Thị Trà M được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng chị Trà M vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình.

Biên bản xác minh ngày 23/9/2019 của ông Lâm Văn T là trưởng ấp 4, xã Vĩnh Xương cung cấp về tình trạng hôn nhân của anh D với chị Trà M thể hiện: Anh D với chị Trà M cưới nhau vào năm 2015 và có đang ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Xương, sau khi cưới nhau thì hai người sống tại số 17a, tổ 2, lộ nông thôn, ấp 4, xã Vĩnh Xương, sau đó hai người đi làm công nhân ở ngoài tỉnh, đến năm 2017 thì giữa anh D với chị Trà M xảy ra mâu thuẫn và hai người không còn sống chung từ đó cho đến nay.

Biên bản xác minh ngày 23/9/2019 của Công an xã Vĩnh xương thể hiện: chị Phạm Thị Trà M, có hộ khẩu thường trú tại số 17a, lộ nông thôn, tổ 2, ấp 4, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Chị Trà M vẫn còn hộ khẩu tại địa chỉ trên, chị Trà M không thuộc trường hợp bỏ địa phương trên sáu tháng.

Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải nhưng không thực hiện được do chị Trà M vắng mặt.

Hội đồng xét xử công bố biên bản xác minh ngày 23/9/2019, tại Công an và Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Xương.

Tại phiên tòa, anh D giữ nguyên yêu cầu, chị Trà M vắng mặt,

Anh D xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác; chị Trà M không cung cấp chứng cứ.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về giải quyết vụ án, anh Lê Công D với chị Phạm Thị Trà M có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, năm 2017 phát sinh mâu thuẫn anh D với chị Trà M do hai người bất đồng quan điểm sống, không hiểu nhau. Anh D với chị Trà M đã không còn sống chung thời gian dài. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh D.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh D với chị Trà M có 01 con chung tên Lê Xuân H, sinh ngày 16/10/2015, hiện đang sống với chị Trà M. Hiện nay chị Trà M đang nuôi dạy con chung, anh D đồng ý giao con cho chị M nuôi, anh D không cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ vào quyền lợi và điều kiện môi trường tốt, đề nghị giao cháu H cho chị Trà M nuôi dạy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền: Anh Lê Công D khởi kiện “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” với chị Phạm Thị Trà M, sinh năm 1996; địa chỉ cư trú: Số 17a lộ nông thôn, tổ 2, ấp 4, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Xét, quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.

Sự vắng mặt của đương sự: Chị Phạm Thị Trà M vắng mặt, không lý do. Biên bản xác minh ngày 23/9/2019 của Công an xã Vĩnh Xương thể hiện: chị Phạm Thị Trà M có hộ khẩu tại địa chỉ số 17a lộ nông thôn, tổ 2, ấp 4, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Chị Trà M vẫn còn hộ hẩu tại địa chỉ trên, chị Trà M không thuộc trường hợp bỏ địa phương trên 6 tháng. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Công D với chị Phạm Thị Trà M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 149/HT, quyển 01/2014 ngày 19/12/2014. Xét, hôn nhân giữa anh D với chị Trà M là hợp pháp.

Anh D khai, quá trình chung sống anh D với chị Trà M phát sinh mẫu thuẫn do nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, chị Trà M đã bỏ đi và hai người không còn sống chung từ đó đến nay. Anh D và chị Trà M sống xa nhau từ năm 2017 cho đến nay.

Biên bản xác minh ngày 23/9/2019 của ông Lâm Văn T là trưởng ấp 4, xã Vĩnh Xương cung cấp về tình trạng hôn nhân của anh D với chị Trà M thể hiện: Anh D với chị Trà M cưới nhau vào năm 2015 và có đang ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Xương, sau khi cưới nhau thì hai người sống tại số 17a, tổ 2, lộ nông thôn, ấp 4, xã Vĩnh Xương, sau đó hai người đi làm công nhân ở ngoài tỉnh, đến năm 2017 thì giữa anh D với chị Trà M xảy ra mâu thuẫn và hai người không còn sống chung từ đó cho đến nay.

Theo khoản 2 Điều 17, Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp,… và lý do chính đáng khác”;

“Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”.

Anh D với chị Trà M đã mâu thuẫn tình cảm, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Giữa anh D với chị Trà M đã sống xa cách nhau từ năm 2017 đến nay.

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét, chấp nhận yêu cầu của anh D ly hôn đối với chị Trà M.

Về con chung: Anh D khai, trong thời kỳ hôn nhân anh D với chị Trà M có 01 con chung tên Lê Xuân H, sinh ngày 16/10/2015, hiện đang sống với chị Trà M. Hiện nay chị Trà M đang nuôi dạy con chung, anh D đồng ý giao con cho chị M nuôi, anh D không cấp dưỡng nuôi con .

Xét thấy cháu H đang sống ổn định với chị Trà M, giao cháu H sống cùng với chị Trà M sẽ đảm bảo điều kiện về mọi mặt của cháu.

Xét, giao cháu Lê Xuân H cho chị Trà M nuôi dạy cho đến khi cháu thành niên và có khả năng lao động.

Chị Trà M cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh D trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng: Anh D không đồng ý cấp dưỡng, chị Trà M không có ý kiến về cấp dưỡng để nuôi dạy con chung. Xét, không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh D khai không có, không yêu cầu giải quyết. Xét, không đặt ra giải quyết. Nếu sau này chị Trà M cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng giữa hai người có tài sản hoặc nợ chung thì chị Trà M vẫn có quyền khởi kiện anh D yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh Lê Công D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; chị Phạm Thị Trà M không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

(Theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lê Công D.

Về hôn nhân: Anh Lê Công D được ly hôn với chị Phạm Thị Trà M.

Giấy chứng nhận kết hôn số 149/HT, quyển 01/2014 ngày 19/12/2014 do UBND xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang cấp cho anh Lê Công D với chị Phạm Thị Trà M không còn giá trị pháp luật.

Về con chung: công nhận sự tự nguyện của anh Lê Công D giao cho chị Phạm Thị Trà M được nuôi dạy cháu Lê Xuân H, sinh ngày 16/10/2015. Anh Lê Công D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Phạm Thị Trà M cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Lê Công D trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Nếu sau này chị Phạm Thị Trà M cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng giữa hai người có tài sản hoặc nợ chung thì chị Trà M vẫn có quyền khởi kiện anh D yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Lê Công D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0002017 ngày 01 tháng 8 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu.

Chị Phạm Thị Trà M không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Lê Công D có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Thời hạn kháng cáo của chị Phạm Thị Trà M là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ