- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Hồ Hữu Hạnh L và Phạm Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Hồ Hữu Hạnh L được ly hôn với anh Phạm Văn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình - Căn cứ Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 490/2021/HNGĐ-ST. Ngày: 17/12/2021. V/v: Tranh chấp “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Ngân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Duy
Ông Nguyễn Minh Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Trà My - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 733/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2021/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Hồ Hữu Hạnh L, sinh năm 1990.
Địa chỉ:Ấp BT, xã BT, huyện CT, Tiền Giang
- Bị đơn: Phạm Văn T, sinh năm 1983.
Địa chỉ:Ấp BT, xã BT, huyện CT,Tiền Giang.
(Chị L có mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn xin ly hôn ngày 12/10/2020 và trong biên bản hòa giải không được ngày 02/02/2021 cũng như tại phiên tòa hôm nay chị Hồ Hữu Hạnh L trình bày:
Chị và anh Phạm Văn T tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Bình Trưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang vào năm 2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T không lo làm ăn, anh T thường hay chơi cờ bạc gây ra nợ nần, chị nhiều lần trả nợ cho anh T. Vợ chồng ly thân nhau từ năm 2019 cho đến nay. Nay chị không còn tình cảm với anh T nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Có hai con chung tên Phạm Hồ Phương Q, sinh ngày 27/9/2011 và Phạm Hồ Quỳnh A, sinh ngày 24/9/2018. Hai con chung hiện đang sống với chị. Ly hôn, chị yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Đối với anh Phạm Văn T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng anh T cũng không tham gia hòa giải, không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của Chị L gửi cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về chấp hành qui định của pháp luật tố tụng nguyên đơn thực hiện đúng qui định, bị đơn chưa thực hiện đúng qui định về quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị L, cho chị Hồ Hữu Hạnh L được ly hôn với anh Phạm Văn T, giao hai con chung tên Phạm Hồ Phương Q và Phạm Hồ Quỳnh A cho Chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do Chị L chưa yêu cầu. Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định :
[1] Về tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Hữu Hạnh L, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp “ Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Về nội dung: Xét thấy, chị Hồ Hữu Hạnh L và anh Phạm Văn T chung sống với nhau vào năm 2010, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T không lo làm ăn, anh T thường hay chơi cờ bạc gây ra nợ nần, chị nhiều lần trả nợ cho anh T. Vợ chồng ly thân nhau từ năm 2019 cho đến nay. Nay Chị L yêu cầu được ly hôn với anh T.
Xét thấy thời gian sống ly thân giữa Chị L và anh T đến nay cũng khá lâu nhưng anh T không có giải pháp tháo gỡ những bất đồng, mâu thuẫn nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặc khác, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay anh T cũng không có mặt mặc dù anh đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng, như vậy chứng tỏ anh T đã không muốn hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa Chị L và anh T đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ là không có. Do đó, việc Chị L yêu cầu được ly hôn với anh T là có cơ sở và hoàn toàn phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị L và anh T có 02 con chung tên Phạm Hồ Phương Q, sinh ngày 27/9/2011 và Phạm Hồ Quỳnh A, sinh ngày 24/9/2018. Nay Chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy từ lúc Chị L và anh T sống ly thân cho đến nay, cháu Phương Q và cháu Quỳnh A được Chị L chăm sóc nuôi dưỡng chu đáo. Nhằm cho hai cháu có cuộc sống ổn định về mặt tâm sinh lý, hơn nữa nguyện vọng của cháu Phương Q là được sống với mẹ, vì vậy Hội đồng xét xử giao cháu Phạm Hồ Phương Q và Phạm Hồ Quỳnh A cho Chị L trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do Chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét
Về tài sản chung và nợ chung: Chị L trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Chị Hồ Hữu Hạnh L phải chịu án phí HNGĐ – ST theo quy định pháp luật.
Đối với anh Phạm Văn T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh T.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Hồ Hữu Hạnh L được ly hôn với anh Phạm Văn T.
2. Về con chung: Giao hai con chung tên Phạm Hồ Phương Q, sinh ngày 27/9/2011 và Phạm Hồ Quỳnh A, sinh ngày 24/9/2018 cho chị Hồ Hữu Hạnh L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do Chị L chưa yêu cầu.
Anh Phạm Văn T được quyền đến thăm và chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở.
3. Về án phí: Chị Hồ Hữu Hạnh L chịu 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, Chị L đã nộp 300.000đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003406 ngày 26/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang do đó xem như đã nộp xong án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Hữu Hạnh L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu HS, AV | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ĐÃ KÝ Võ Thị Thu Ngân |