vanban.org

Bản án 490/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: không công nhận giữa anh Nguyễn Thanh Đ với chị Nguyễn Thị T là vợ chồng.

Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Thanh Đ được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Thanh K, sinh ngày 26/6/2006. Công nhận anh Đ tự nguyện nuôi con mà không yêu cầu chị Nguyễn Thị T cấp dưỡng nuôi con. Anh Đ cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1987 - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: không công nhận giữa anh Nguyễn Thanh Đ với chị Nguyễn Thị T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TAN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 490/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 13/11/2019
V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn và nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH ANGIANG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Dũng;

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Công Minh, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 326/2019/TLST-HNGĐ ngày 07/8/2019 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 504/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 533/2019/QĐST-HN ngày 23/10/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: Tổ 7, ấp 2, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; có mặt

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Tổ 3, ấp 3, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 30/7/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Nguyễn Thanh Đ trình bày: Giữa anh Nguyễn Thanh Đ với chị Nguyễn Thị T quen biết nhau, yêu nhau và tự về sống chung với nhau vào năm 2005 nhưng hai người không có đăng ký kết hôn và cũng không tổ chức lễ cưới, khi hai người về sống chung thì sống chung với cha mẹ anh Đ tại tổ 7, ấp 2, xã Vĩnh Xương, thị xã tân Châu, tỉnh An Giang. Cuộc sống quá vất vả không có việc làm nên đến năm 2013 thì hai người dắt nhau lên tỉnh Bình Dương làm công nhân, cũng vào năm 2013 tại tỉnh Bình Dương chị T bỏ anh Đ ra đi với người đàn ông khác cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy anh Đ xin được ly hôn với chị T.

- Về con chung: Anh Đ với chị T có một đứa con chung tên Nguyễn Thanh K, sinh ngày 28/6/2006 con đang sống với anh Đ, khi ly hôn anh Đ yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh Đ với chị T không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh Đ với chị T không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong suốt quá trình tố tụng, chị Nguyễn Thị T được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng chị T vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình.

Biên bản xác minh ngày 23/9/2019 của bà Phạm Thị Đ là mẹ ruột anh Đ cung cấp về tình trạng hôn nhân của anh Đ với chị T thể hiện: Anh Nguyễn Thanh Đ với chị Nguyễn Thị T tự về sống chung với nhau vào năm 2005 nhưng hai người không có đăng ký kết hôn và cũng không tổ chức lễ cưới. Anh Đ với chị T về sống chung với gia đình bà tại xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, sống nghề làm thuê tại địa phương, đến năm 2013 thì anh Đ với chị T lên tỉnh Bình D làm công nhân

Kể từ đó anh Đ với chị T xảy ra mâu thuẫn, chị T bỏ anh Đ đi cho đến nay. Theo bà Đ giữa anh Đ với chị T sống không có hạnh phúc Tòa án cho hai người ly hôn là hợp lý.

Biên bản xác minh ngày 23/9/2019 của Công an xã Vĩnh Xương thể hiện: Chị Nguyễn Thị T có hộ khẩu tại tổ 03, ấp 03, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, hiện chị T vẫn còn hộ khẩu tại địa chỉ trên. Chị T đi làm ăn xa không có mặt ở địa phương, chị T không thuộc trường hợp bỏ địa phương trên 06 tháng

Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải nhưng không thực hiện được do chị T vắng mặt.

Hội đồng xét xử công bố hai biên bản xác minh cùng ngày 23/9/2019 của bà Phạm Thị Đ và Công an xã và UBND xã Vĩnh Xương.

Tại phiên tòa, anh Đ giữ nguyên yêu cầu, chị T vắng mặt,

Anh Đ xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác; chị T không cung cấp chứng cứ.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về giải quyết vụ án, anh Nguyễn Thanh Đ với chị Nguyễn Thị T không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, năm 2013 giữa anh Đ với chị T phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, sống không hiểu nhau và hai người không còn sống chung đến nay. Do hai người không có đăng ký kết hôn. Căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị không công nhận giữa anh Đ với chị T là vợ chông.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh Đ với chị T có 01 con chung tên Nguyễn Thanh K, sinh ngày 28/6/2006 con đang sống với anh Đ. Đề nghị giao cho anh Đ nuôi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền: Anh Nguyễn Thanh Đ khởi kiện “Tranh chấp hôn nhân, gia đình, ly hôn và nuôi con chung” với Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Tổ 3, ấp 3, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Xét, quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.

Sự vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị T vắng mặt, không lý do. Biên bản xác minh ngày 23/9/2019 của Công an xã Vĩnh Xương thể hiện: Chị Nguyễn Thị T có hộ khẩu tại tổ 03, ấp 3, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, hiện chị T vẫn còn hộ khẩu tại địa chỉ trên. Chị T đi làm ăn xa không có mặt ở địa phương, chị T không thuộc trường hợp bỏ địa phương trên 06 tháng. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Giữa anh Nguyễn Thanh Đ với chị Nguyễn Thị T quen biết nhau, yêu nhau và tự về sống chung với nhau vào năm 2005 nhưng hai người không có đăng ký kết hôn và cũng không tổ chức lễ cưới, khi hai người về sống chung thì sống chung với cha mẹ anh Đ tại tổ 7, ấp 2, xã Vĩnh Xương, thị xã tân Châu, tỉnh An Giang. Cuộc sống quá vất vả không có việc là nên đến năm 2013 thì hai người dắt nhau lên tỉnh Bình Dương làm công nhân, cũng vào năm 2013 tại tỉnh Bình Dương chị T bỏ anh Đ ra đi với người đàn ông khác cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy anh Đ xin được ly hôn với chị T.

Biên bản xác minh ngày 23/9/2019 của bà Phạm Thị Đ là mẹ ruột anh Đ cung cấp về tình trạng hôn nhân của anh Đ với chị T thể hiện: Anh Nguyễn Thanh Đ với chị Nguuyễn Thị T tự về sống chung với nhau vào năm 2005 nhưng hai người không có đăng ký kết hôn và cũng không tổ chức lễ cưới. Anh Đ với chị T về sống chung với gia đình bà tại xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, sống nghề làm thuê tại địa phương, đến năm 2013 thì anh Đ với chị T lên tỉnh Bình Dương làm công nhân

Như vậy cho thấy giữa anh Đ với chị T, hai người sống chung với nhau vào năm 2005 và sống chung với nhau kéo dài đến năm 2013, khi đó cả hai người đều đã đến tuổi đăng ký kết hôn. Nhưng giữa anh Đ với chị T không thực hiện nghĩa vụ đi đăng ký kết hôn, nên quan hệ giữa anh Đ với chị T không làm phát sinh nghĩa vụ vợ chồng theo quy định tại khoản 1, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, HĐXX nên tuyên không công nhận giữa anh Đ với chị T là vợ chồng, phù hợp pháp luật.

Về con chung: Anh Đ khai, trong thời kỳ sông chung, anh Đ với chị T có 01 con chung tên Nguyễn Thanh K, sinh ngày 26/6/2006 con đang sống với anh Đ, khi ly hôn anh Đ yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của cháu K muốn được sống với anh Đ.

Xét, cháu K đang sống chung với anh Đ từ năm 2013 đến nay, nay anh Đ yêu cầu được nuôi dưỡng, cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu K. Thấy hợp lý, Hội đồng xét xử nên giao cháu k cho anh Đ nuôi dưỡng và công nhận anh Đ tự nguyện nuôi con. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Đ khai giữa anh với chị T không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết. Xét, không đặt ra giải quyết. Nếu sau này chị T cho rằng trong thời gian chung sống giữa hai người có tài sản hoặc nợ chung thì chị T vẫn có quyền khởi kiện anh Đ yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh Nguyễn Thanh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; chị Nguyễn Thị T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

(Theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 14 Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

Về hôn nhân: không công nhận giữa anh Nguyễn Thanh Đ với chị Nguyễn Thị T là vợ chồng.

Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Thanh Đ được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Thanh K, sinh ngày 26/6/2006. Công nhận anh Đ tự nguyện nuôi con mà không yêu cầu chị Nguyễn Thị T cấp dưỡng nuôi con.

Anh Đ cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Nếu sau này chị Nguyễn Thị T cho rằng trong thời gian chung sống giữa hai người có tài sản hoặc nợ chung thì chị T vẫn có quyền khởi kiện anh Đ yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Thanh Đ phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0002028 ngày 06 tháng 8 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu.

Chị Nguyễn Thị T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Thanh Đ có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Thời hạn kháng cáo của chị Nguyễn Thị T là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ