- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Lê Thị L xin ly hôn anh Nguyễn Thành Tr"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị L được ly hôn anh Nguyễn Thành Tr.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 49/2021/HNG§-ST Ngµy 24 - 3 - 2021 V/v ly h«n |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quang Huy
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Trưởng - Kiểm sát viên
Trong ngày 24/3/2021 tại trụ sở TAND huyện Phú Xuyên xét xử công khai vụ án thụ lý số: 09/ 2021/ TLST - HNGĐ ngày 20/ 01/ 2021 về việc kiện ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/ 2021/ QĐXX - ST ngày 09/3/2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị L, sinh năm 1983
HKTT: Tiểu L thị trấn X, huyện X, Thành phố Hà Nội.
Nơi ở: Xóm 1, thị trấn Q, huyện B, tỉnh Hà Nam
Bị đơn: Anh Nguyễn Thành Tr, sinh năm 1983
HKTT: Tiểu khu L, thị trấn X, huyện X, Thành phố Hà Nội.
Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại: Phân trại số 2, Trại giam C, xã Th, huyện Th, tỉnh Thanh Hóa.
Chị L có mặt, anh Tr xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và những lời khai tại Toà, nguyên đơn chị Lê Thị L trình bày:
- Về hôn nhân: Chị L và anh Nguyễn Thành Tr tự nguyện kết hôn vào ngày 13/10/2010, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Quế, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau khi cưới, chị về chung sống với anh Tr tại Tiểu khu Mỹ Lâm, thị trấn Phú Xuyên, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Quan hệ vợ chồng hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn, do anh Tr chơi bời, nghiện ma túy, dẫn đến vi phạm pháp luật và hiện nay đang phải chấp hành án hình phạt tù tại Trại giam Thanh Cẩm, xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng đã ly thân nhiều năm nay không còn quan hệ gì. Nhận thấy tình cảm không còn, hạnh phúc không có, chị đề nghị được ly hôn anh Trung.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Quỳnh Nh, sinh ngày 11/10/2011, Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/12/2014. Hiện nay cả hai con chung đang ở với chị L. Ly hôn chị L xin được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung, không yêu cầu anh Tr phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung với chị L.
- Về tài sản chung vợ chồng: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn, anh Nguyễn Thành Tr trình bày:
- Về hôn nhân: Anh Tr xác nhận, anh và chị Lê Thị L tự nguyện kết hôn từ năm 2010. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn, do anh Trung chơi bời, nghiện ma túy, dẫn đến vi phạm pháp luật và hiện anh Tr đang phải chấp hành án phạt tù tại Trại giam Thanh Cẩm, xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng đã ly thân nhiều năm nay không còn quan hệ gì. Nay chị L xin ly hôn anh, anh Tr đồng ý ly hôn để giải phóng cho nhau.
- Về con chung: Anh Tr xác nhận, vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Quỳnh Nh, sinh ngày 11/10/2011, Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/12/2014, hiện cả hai con chung đang ở với chị L. Ly hôn anh Tr đồng ý để cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung, anh Tr xin được tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với chị L.
- Về tài sản chung vợ chồng: Anh Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà: Chị L giữ nguyên yêu cầu của mình.
Đại diện VKSND huyện Phú Xuyên tham gia phiên toà phát biểu về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Làn cho chị Làn được ly hôn với anh Nguyễn Thành Tr; giao cả hai con chung là cháu Nguyễn Quỳnh Nh, sinh ngày 11/10/2011, Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/12/2014 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Tr và không xem xét quan hệ tài sản chung vợ chồng do các bên không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Mặc dù phía bị đơn anh Nguyễn Thành Tr vắng mặt tại phiên tòa, nhưng anh Tr đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại Điều 228 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Trung.
Về hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Thành Tr tự nguyện kết hôn ngày 13/10/2010, bằng việc đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Quế, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị L chung sống với anh Tr ngay tại gia đình anh Tr. Quan hệ vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Tr chơi bời, nghiện ma túy, vi phạm pháp luật; chị L xin ly hôn với anh Trg, anh Tr đồng ý ly hôn. Xác minh tại nơi cư trú, chính quyền địa phương cũng xác nhận, mâu thuẫn giữa các bên là không thể hàn gắn và trên thực tế quan hệ hôn nhân đã thực sự chấm dứt đã nhiều năm nay. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Làn và anh Tr đã thực sự trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thời gian ly thân đã lâu, nên cần áp dụng các quy định tại các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 39 của BLDS chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị L và xử cho chị L được ly hôn với anh Nguyễn Thành Tr.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Quỳnh Nh, sinh ngày 11/10/2011, Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/12/2014. Quá trình giải quyết việc kiện, các bên đã thỏa thuận được nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử chấp nhận; giao cả hai con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Tr đến khi chị Làn có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.
Về Tài sản chung vợ chồng: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Thành Tr đều không yêu cầu Toà xét. Toà không xét.
Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 39 BLDS; Điều 147 Bộ luật TTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị L được ly hôn anh Nguyễn Thành Tr.
2. Về con chung: Giao chị Lê Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Quỳnh Nh, sinh ngày 11/10/2011, cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/12/2014. Tạm miễn việc góp phí tổn nuôi con cho anh Tr đến khi chị L có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh Trung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung vợ chồng: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Thành Tr đều không yêu cầu Toà xét, Toà không xét
4. Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào khoản tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên thu tạm ứng án phí số AE/2010/0006008 ngày 20/01/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên. Chị L đã nộp đủ án phí án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
( đã ký)
Lã Phi Hùng
| Nơi nhận: - TAND Thành phố; - VKSND Thành phố, huyện; - Chi cục THADS huyện. - Các đương sự; - UBND thị trấn Quế; - Lưu hồ sơ + VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lã Phi Hùng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |