vanban.org

Bản án 49

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 19/06/2019 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy một phần b n án s 37/2019/HS-ST ngày 05-4-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ và đình chỉ đ i với bị cáo Lương Ngọc T đã ch t.

Tuyên b các bị cáo Trần Trung Ng, bị cáo Trần Hàn T, bị cáo Trần Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Áp dụng kho n 2 Điều 134; điểm b, s kho n 1 Điều 51; điểm i kho n 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015 đ i với các bị cáo Trần Trung Ng, bị cáo Trần Hàn T. Bị cáo Trần Hàn T được áp dụng thêm kho n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Trung Ng phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sử…"
  • Tòa quyết gì? Hủy một phần b n án s 37/2019/HS-ST ngày 05-4-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ và đình chỉ đ i với bị cáo Lương Ngọc T đã ch t.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật T tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

N NH N N C N H X H CH N H

T N M

T NH M Đ N

Đ c l p – T do – H nh ph c B n án s : 49/2019/HS-PT Ngày: 19-6-2019

NHÂN DANH

N C C N H X H CH N H

T N M

T

N NH N N T NH M Đ N

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Kim Đồng

Các Thẩm phán:

Ông Phan Minh Dũng

Ông Huỳnh Văn Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Du - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 52/2019/TLPT-HS ngày 20-5-2019 đ i với bị cáo Trần Trung Ng cùng đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Trần Trung Ng, bị cáo Lương Ngọc T, bị cáo Trần Hàn T, bị cáo Trần Minh T, kháng cáo của bị hại ông Đinh S; đ i với b n án hình sự sơ thẩm s 37/2019/HS-ST ngày 05-4-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo kháng cáo, bị kháng cáo:

. Tr n Trung Ng; sinh năm 1985 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: thôn Ninh Hòa, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới Th: nam; tôn giáo: Phật giáo; qu c tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh T, sinh năm 1954 (cùng là bị cáo trong vụ án); và bà Thái Mách Đ, sinh năm 1957; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị b t giam t ngày 28-11-2013 đ n ngày 15-01-2014 (01 tháng 19 ngày), hiện đang tại ngoại. Có mặt.

2. Họ và tên: ng Ng c T; sinh năm 1964 tại tỉnh Qu ng Nam; nơi cư trú: thôn Ninh Hòa, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới Th: nam; tôn giáo: Phật giáo; qu c tịch: Việt Nam; con ông Lương Bu (đã ch t) và bà Nguyễn Thị N (đã ch t); vợ Trần Thị N, sinh năm 1970 và có 04 người con, lớn nh t sinh năm 1991, nh nh t sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị b t giam t ngày 28-11-2013, đ n ngày 07-01-2014 (01 tháng 11 ngày); hiện bị cáo đã ch t ngày 28-5-2019.

3. Tr n Hàn T; sinh năm 1981 (anh ruột bị cáo Ng trong cùng vụ án) tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: thôn Ninh Hòa, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới Th: nam; tôn giáo: Phật giáo; qu c tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh T, sinh năm 1954 (cùng bị cáo trong vụ án); con bà Thái Mách Đ, sinh năm 1957; vợ Dương Thị Kim Th, sinh năm 1986 và có 02 người con, lớn nh t sinh năm 2009, nh nh t sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.

4. Tr n Minh T; sinh năm 1954 tại tỉnh Lâm Đồng (bố bị cáo Ng, bị cáo T cung vụ án); nơi ĐKNKTT: 497 đường Hùng Vương, khu ph 4, thị tr n D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: thôn Ninh Hòa, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới Th: nam; tôn giáo: Phật giáo; qu c tịch: Việt Nam; con ông Trần Tô (đã ch t) và bà Huỳnh Thị S (đã ch t); vợ Thái Mách Đ, sinh năm 1957 và có 04 người con, lớn nh t sinh năm 1979, nh nh t sinh năm 1985; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị b t giam t ngày 28-11-2013, đ n ngày 07-01-2014 (01 tháng 11 ngày); hiện đang tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Ông Đinh S, sinh năm1930; nơi cư trú: thôn Ninh Hòa, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị V, sinh năm 1966; nơi cư trú: thôn Ninh Hòa, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Người liên quan đến kháng cáo: Bà Trần Thị N, sinh năm 1970; thôn Ninh Hòa, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Người kế thừa phần kháng cáo, bị kháng cáo của bị cáo Lương Ngọc T:

1. Bà Trần Thị N, sinh năm 1970; nơi cư trú: thôn Ninh Hòa, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt;

2. Chị Lương Nữ Ngọc H, sinh năm 1991; nơi cư trú: thôn Ninh Hòa, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. V ng mặt;

3. Chị Lương Nữ Ngọc Tr, sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn Ninh Hòa, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. V ng mặt;

4. Anh Lương Minh L, sinh năm 1999; nơi cư trú: thôn Ninh Hòa, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. V ng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của chị H, chị Tr, anh L: Bà Trần Thị N, sinh năm 1970; nơi cư trú: thôn Ninh Hòa, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; “Văn bản ủy quyền ngày 14-6-2019”. Có mặt.

5. Cháu Lương Minh H, sinh năm 2007; nơi cư trú: thôn Ninh Hòa, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. V ng mặt.

Người giám hộ của cháu H: Bà Trần Thị N, sinh năm 1970; nơi cư trú: thôn Ninh Hòa, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Xu t phát t việc tranh ch p đ t t năm 2009 giữa hộ gia đình bà Trần Thị N và hộ gia đình bị hại ông Đinh S; trong thời gian chờ các Cơ quan có thẩm quyền gi i quy t thì gia đình bị hại canh tác, sử dụng đ t tranh ch p. Do vậy, vào ngày 26-6-2013, bà N, bị cáo T (cháu ruột của N) đ n vị trí đ t tranh ch p ngăn c n thì bị hại ông S dùng cây đánh bà N, bị cáo T bị thương tích nhẹ.

Xu t phát t lý do trên, ngày 28-6-2013 bị cáo Lương Ngọc T (chồng bà N) đã gọi anh em, con cháu họ hàng tập trung về nhà mình để ký gi y tờ th a k đ t và gi i quy t sự việc tranh ch p đ t với gia đình bị hại ông Đinh S. Đ n kho ng 13 giờ cùng ngày tại nhà bị cáo Ngọc T có bị cáo Ngọc T, bà N, bị cáo Trần Minh T (Minh T), bị cáo Trần Trung Ng, bị cáo Trần Hàn T, anh Trần Thanh Minh, anh Vũ Thanh Sang. Sau khi xem v t bầm tím trên người của bà N do bị hại ông S đánh, mọi người cùng bàn bạc là sẽ xu ng đ t tranh ch p, n u ông S vẫn ti p tục làm thì can ngăn, mọi người đồng ý và nói bà N chạy xe xu ng đ t xem n u th y bị hại ông S vẫn làm thì gọi điện về báo cho mọi người xu ng.

Kho ng 14 giờ cùng ngày, bà N chạy xe một mình đ n vị trí đ t tranh ch p, th y bà Đinh Thị V (con ng ) cùng người làm vẫn canh tác đ t tranh ch p nên có xu ng nói chuyện với bà Vinh không canh tác nhưng bà Vinh không đồng ý, ti p đó bà N gọi điện thoại cho bị cáo Ngọc T và bị cáo Ngọc T nói với mọi người đ n vị trí đ t tranh ch p để ngăn c n. Do trước đó vào ngày 26-6-2013 bị hại ông S đánh bà N và bị cáo T gây thương tích nhẹ, nên m i người tự ý ki m cho mình một hung khí gồm bị cáo Ngọc T cầm theo 01 cưa cành cà phê dài kho ng 0.5m, bị cáo Tu n cầm 01 cây cán cu c dài kho ng 1,2m, bị cáo T cầm 01 cây cán cu c dài kho ng 1,2m, bị cáo Ng cầm theo 01 con dao dài kho ng 30cm, rộng 5cm, anh Sang cầm theo 01 cưa cành cà phê loại g p dài kho ng 50cm, anh Minh không cầm theo gì và t t c đi đ n vị trí đ t tranh ch p.

Khi đ n nơi t t c dựng xe trên lề đường Qu c lộ 20 rồi đi lần lượt bị cáo Minh T cầm cây cán cu c, bị cáo Ngọc T nhặt 01 khúc cây gần bờ ruộng, anh Minh đi tay không xu ng trước và hô đuổi 03 người làm thuê cho bị hại ông S đi, th y 03 người làm của ông S b chạy, anh Sang có cầm cưa đuổi theo nhưng không đánh được ai. Khi th y bị hại ông S, bị cáo Minh T chạy lại, bị hại ông S cầm cu c đánh bị cáo Minh Tu n và bị cáo Minh T đưa cây lên đỡ và lao vào ôm vật bị hại ông S nhưng bị hại ông S ôm đè lên trên và dùng tay đánh, bị cáo Minh T giằng ra nhưng không được, th y vậy bị cáo Ngọc T cầm cây nhặt được lao vào đánh 01 cái trúng vào sau vai bị hại ông S. Lúc đó, bị cáo Ng cầm dao chạy tới th y b mình là bị cáo Minh T bị ông S đánh nên đã dùng dao cầm ở tay ph i chém liên ti p 02 đ n 03 nhát vào đầu và vai bị hại ông S, bị chém bị hại ông S buông bị cáo Minh T ra đi lùi về sau. Th y bị hại ông S bị đánh, anh Tôn Th t Khiêm, anh Phan Thanh Đức (con rể ng S) đang làm gần đó có chạy lại can, bị bị cáo T cầm cây dọa đánh nên b chạy, ti p đó bị cáo T đuổi theo đánh bị hại ông S nhưng bị hại ông S cầm cu c đánh lại, giữa bị cáo T dùng cây đánh và bị hại ông S dùng cu c đánh nhau nhưng không trúng ai. Th y bị hại ông S ch y máu, nên bị cáo T không đánh nữa và cùng mọi người đi lên đường. Khi lên đ n đường qu c lộ, con ruột và con rể của bị hại ông S tới, anh Minh dùng tay đánh vào đầu anh Khiêm nhưng không gây thương tích. Sau đó Công an xã xu ng ngăn chặn và mọi người gi i tán.

Tại k t luận giám định pháp y về thương tích s 246/PY-TT của Phòng giám định pháp y xác định “tỷ lệ thương tích của bị hại 45%, trong đó vết thương trượt đốt sống L4-5 là 25%; ẹo 7cm vùng chẩm 5%; ẹo 6cm vai trái 4%; Gãy xương đòn bên phải 4%; Gãy xương đòn bên trái 4%; Gãy xương bả vai trái 6%; Vỡ bản ngoài xương sọ vùng đỉnh phải 8%”.

Ngày 16-01-2017, Cơ quan điều tra trưng cầu giám định lại, Tại b n giám định pháp y về thương tích s 75/17/TGT ngày 01-6-2017 của Viện pháp y Qu c gia-Bộ y t xác định “tỷ lệ thương tích của bị hại 30% (áp dụng nguyên tắc cộng lùi) trong đó sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh phải và bả vai trái kích thước nhỏ 8%; lún bản ngoài xương sọ vùng đỉnh phải 8%; gãy xương đòn hai bên cal liền 6% + 6%; gãy xương bả vai trái 6%. Hiện tại thân đốt sống L4 có hình ảnh tổn thương trượt ra trước, thoát vị đĩa đệm tầng L4, L5 tổn thương do bệnh lý”.

- Về vật chứng của vụ án gồm: 01 cây rựa phát; 03 cây cán cu c bằng g ; 01 cưa cành cà phê; 02 cây xà bách.

- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình làm việc bị hại ông Đinh S không đồng ý nộp các hóa đơn chứng t trong việc điều trị thương tích; đề nghị yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự trước tòa. Phía gia đình các bị cáo đã nộp s tiền là 50.000.000đ để kh c phục một phần bồi thường, hiện s tiền này đã chuyển Cơ quan thi hành án dân sự huyện Đức Trọng.

Tại B n án hình sự s 37/2019/HS-ST ngày 05-4-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ đã tuyên b các bị cáo Trần Trung Ng, bị cáo Lương Ngọc T, bị cáo Trần Hàn T, bị cáo Trần Minh T phạm tội „„Cố ý gây thương tích”;

Áp dụng kho n 2 Điều 134, điểm b, s kho n 1 Điều 51; điểm i kho n 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung Bộ luật hình sự 2015) đ i với các bị cáo Trần Trung Ng, bị cáo Lương Ngọc T, bị cáo Trần Hàn T. Bị cáo Lương Ngọc T được áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Trần Trung Ng 36 tháng tù, thời hạn tù tính t ngày b t giam để thi hành án; được tr thời gian tạm giữ, tạm giam t ngày 28-11-2013 đ n ngày 15-01-2014.

- Xử phạt bị cáo Trần Hàn T 30 tháng tù, thời hạn tù tính t ngày b t giam để thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Lương Ngọc T 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính t ngày tuyên án.

Áp dụng kho n 1 Điều 134, điểm b, s kho n 1 Điều 51; điểm i kho n 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 đ i với bị cáo Trần Minh T;

- Xử phạt bị cáo Trần Minh T 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính t ngày tuyên án.

Về bồi thường thiệt hại: Buộc các bị cáo có Ng vụ liên đới bồi thường cho bị hại ông Đinh S s tiền 248.314.000đ; các bị cáo đã nộp s tiền kh c phục hậu qu 50.000.000đ; buộc các bị cáo Trần Trung Ng, bị cáo Lương Ngọc T, bị cáo Trần Hàn T, bị cáo Trần Minh T có Ng vụ liên đới bồi thường s tiền còn lại cho bị hại ông Đinh S là 198.314.000đ.

Ngoài ra, b n án còn xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định pháp luật.

Ngày 16-4-2019 các bị cáo Lương Ngọc T, Trần Minh T kháng cáo đề nghị gi m bồi thường thiệt hại.

Ngày 16-4-2019 các bị cáo Trần Trung Ng, Trần Hàn T kháng cáo đề nghị gi m nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo và đề nghị gi m bồi thường thiệt hại.

Ngày 18-4-2019 bị hại kháng cáo tăng hình phạt đ i với các bị cáo, tăng mức bồi thường, xem xét vai trò của bà Trần Thị N.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo khai nhận thực hiện hành vi như b n án sơ thẩm, không th c m c khi u nại b n án sơ thẩm. Về kháng cáo, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, ch p nhận bồi thường theo hóa đơn chi phí Tòa án công b ; bị cáo Ng, bị cáo T xu t trình tài liệu bồi thường 40.000.000đ; đề nghị Tòa án xem xét ch p nhận.

Về phía bị hại ông S và người đại diện theo ủy quyền rút kháng cáo đ i với bị cáo Ngọc T, lý do bị cáo Ngọc T đã ch t; giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cho rằng hình phạt t ng các bị cáo Ng, bị cáo T, bị cáo Minh T quá nhẹ, đề nghị tăng hình phạt. Về k t luận giám định chưa đầy đủ các thương tích, nên đề nghị Tòa án ch p nhận trưng cầu giám định lại thương tích. Ngoài ra, b n án sơ thẩm còn b lọt người phạm tội bà N vai trò đồng phạm chủ mưu; các anh Minh, anh Sang với vai trò đồng phạm.

Về bồi thường thiệt hại: Về thiệt hại viện phí và chi phí thuê phượng tiện theo hóa đơn được c p sơ thẩm ch p nhận là 86.614.000đ; các kho n khác chưa được ch p nhận, nay yêu cầu bồi thường tiền ăn và sữa t ngày nhập viện đ n nay là 69 tháng x 5.000.000đ/tháng = 345.000.000đ; tiền nuôi dưỡng 68 tháng x 6.000.000đ/tháng = 408.000.000đ; tiền thuê xe các lần lên Tòa 3.000.000đ; tiền chi phí đi làm việc các cơ quan chức năng 30.000.000đ; tiền bồi thường tổn th t tinh thần; tiền chi phí giám định lần hai tại Hà Nội là 10.000.000đ.

Người liên quan đ n kháng cáo bà N xác định chỉ bàn bạc đ n ngăn c n chứ không hề bàn bạc rằng đánh bị hại, đề nghị Tòa xem xét. Liên quan đ n k th a Ng vụ của bị cáo Ngọc T, đồng ý bồi thường theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị căn cứ kho n 7 Điều 157; điểm d kho n 1 Điều 355; kho n 2 Điều 359 của Bộ luật T tụng hình sự; tiểu mục b2, mục b phần II Thông tư liên tịch s 03/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25-12-2000 của Toà án nhân dân t i cao; Viện Kiểm sát nhân dân t i cao, để hủy Quy t định của b n án sơ thẩm và đình chỉ vụ án về hình sự đ i với bị cáo Lương Ngọc T đã ch t.

Đ i với kháng cáo của các bị cáo, kháng cáo bị hại; đề nghị căn cứ điểm a, b kho n 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 của Bột luật T tụng hình sự; không ch p nhận kháng cáo của bị hại; ch p nhận một phần kháng cáo của các bị cáo về bồi thường thiệt hại, đề nghị buộc các bị cáo, người k th a của bị cáo Lương Ngọc T bồi thường cho bị hại theo quy định pháp luật;

NHẬN ĐỊNH C T

N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về t tụng: Bị cáo Lương Ngọc T đã ch t ngày 28-5-2019 do bệnh ung thư. Do vậy, căn cứ kho n 7 Điều 157; điểm d kho n 1 Điều 355; kho n 2 Điều 359 của Bộ luật T tụng hình sự; tiểu mục b2, mục b phần II Thông tư liên tịch s 03/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25-12-2000 của Toà án nhân dân t i cao; Viện Kiểm sát nhân dân t i cao, để hủy Quy t định của b n án sơ thẩm và đình chỉ vụ án về hình sự đ i với bị cáo Ngọc T đã ch t như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp. Trong trường hợp này, bị cáo T không thuộc trường hợp oan sai, c p sơ thẩm không có l i.

[2] Về hành vi: Xu t phát t việc tranh ch p đ t t năm 2009 giữa hộ gia đình bà N và hộ gia đình bị hại ông S và t việc bị hại ông S đánh bà N, đánh bị cáo T vào ngày 26-6-2013. Do vậy ngày 28-6-2013, bị cáo Ngọc T (chồng bà N) đã gọi anh em, con cháu họ hàng tập trung về nhà mình để ký gi y tờ th a k đ t và gi i quy t sự việc tranh ch p đ t với gia đình bị hại ông Đinh S. Đ n kho ng 13 giờ cùng ngày tại nhà bị cáo Ngọc T có bị cáo Ngọc T, bà N, bị cáo Minh T, bị cáo Ng, bị cáo T, anh Minh, anh Sang. Sau khi xem v t bầm tím trên người của bà N do bị hại ông S đánh, mọi người cùng bàn bạc “xuống đất tranh chấp, nếu ng S vẫn tiếp tục làm thì can ngăn”, mọi người đồng ý và nói bà N chạy xe xu ng đ t xem n u th y bị hại ông S vẫn làm thì gọi điện về báo cho mọi người xu ng.

Kho ng 14 giờ cùng ngày, bà N chạy xe một mình đ n vị trí đ t tranh ch p, th y bà Đinh Thị V (con ông S) cùng người làm vẫn canh tác đ t tranh ch p nên có xu ng nói chuyện với bà V không canh tác nhưng bà V không đồng ý, ti p đó bà N gọi điện thoại cho bị cáo Ngọc T nên bị cáo Ngọc T nói với mọi người đ n vị trí đ t tranh ch p để ngăn c n.

Do trước đó vào ngày 26-6-2013 bị hại ông S đã đánh bà N, bị cáo T gây thương tích nhẹ, nên m i người tự ý ki m cho mình một hung khí gồm bị cáo Ngọc T cầm theo 01 cưa cành cà phê, bị cáo Minh T cầm 01 cây cán cu c dài kho ng 1,2m; bị cáo T cầm 01 cây cán cu c dài kho ng 1,2m; bị cáo Ng cầm theo 01 con dao dài kho ng 30cm; anh Sang cầm theo 01 cưa cành cà phê loại g p dài kho ng 50cm, anh Minh không cầm theo gì và t t c đi đ n vị trí đ t tranh ch p.

Khi đ n nơi t t c dựng xe trên lề đường Qu c lộ 20 rồi đi lần lượt bị cáo Minh T cầm cây cán cu c, bị cáo Ngọc T nhặt 01 khúc cây gần bờ ruộng, anh Minh đi tay không đuổi 03 người làm thuê cho bị hại ông S đi, th y 03 người làm thuê của ông S b chạy, anh Sang có cầm cưa đuổi theo nhưng không đánh được ai. Bị cáo Minh T cầm cây, bị hại ông S cầm cu c đánh nhau, sau đó và lao vật nhau, bị hại ông S ôm đè lên người bị cáo Minh T và dùng tay đánh, th y vậy bị cáo Ngọc T cầm cây nhặt được lao vào đánh 01 cái trúng vào sau vai bị hại ông S; bị cáo Ng thay b mình (bị cáo Minh T) bị ông S đánh nên cầm dao cầm ở tay ph i chém liên ti p 02 đ n 03 nhát vào đầu và vai bị hại ông S, bị chém nên bị hại ông S buông bị cáo Minh T ra đi lùi về sau. Anh Khiêm, anh Đức (con rể ng S) đang làm gần đó có chạy lại can, bị cáo bị T cầm cây dọa đánh nên b chạy, ti p đó bị cáo T đuổi theo đánh bị hại ông S nhưng bị hại ông S cầm cu c đánh lại thì bị cáo T không đánh nhau nữa và cùng mọi người đi lên đường. Khi lên đ n đường qu c lộ, con ruột và con rể của bị hại ông S tới, anh Minh dùng tay đánh vào đầu anh Khiêm nhưng không gây thương tích. Sau đó Công an xã xu ng ngăn chặn và mọi người gi i tán.

Đ i chi u k t luận giám định s 75/17/TGT ngày 01-6-2017 của Viện pháp y Qu c gia - Bộ y t , về giám định pháp y thương tích k t luận “tỷ lệ thương tích của bị hại 30% (áp dụng nguyên tắc cộng lùi) trong đó sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh phải và bả vai trái kích thước nhỏ 8%; lún bản ngoài xương sọ vùng đỉnh phải 8%; gãy xương đòn hai bên cal liền 6% + 6%; gãy xương bả vai trái 6%; hiện tại thân đốt sống L4 có hình ảnh tổn thương trượt ra trước, thoát vị đĩa đệm tầng L4, L5 tổn thương do bệnh lý”.

Về phía bị hại cho rằng giám định chưa đủ các thương tích và yêu cầu giám định lại là không có căn cứ. Bởi lẽ, k t luận giám định nêu trên đã thể hiện thương tích vùng đầu có đủ 02 v t thương sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh phải…” và “…lún bản ngoài xương sọ vùng đỉnh phải…”. Đ i chi u hành vi các bị cáo thực hiện, thương tích của bị hại “phần mềm vùng đỉnh phải, lún bản ngoài xương sọ vùng đỉnh phải” do bị cáo Ng gây ra, thương tích “gãy xương đòn hai bên cal liền 6% + 6%; gãy xương bả vai trái 6%” do bị cáo Ngọc T gây ra. Các bị cáo Minh T, bị cáo T tham gia vai trò đồng phạm. C p sơ thẩm đánh giá toàn diện chứng cứ, đ i chi u lời khai của của các bị cáo, k t luận giám định, vật chứng thu giữ, lời khai của người liên quan; đã tuyên b các bị cáo Trần Trung Ng, bị cáo Lương Ngọc T, bị cáo Trần Hàn T, bị cáo Trần Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo Ng dùng dao, bị cáo Ngọc T dùng cây g thuộc hung khí nguy hiểm, gây thương tích ngày 28-6-2013, nên bị cáo bị áp dụng điểm kho n 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi chung Bộ luật hình sự năm 1999). Do vậy, khi xét xử cần so sách khung hình phạt và các tình ti t khác của kho n 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999, với kho n 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, nên trong trường hợp này khung hình phạt của kho n 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “từ 2 năm tù đến 6 năm tù”, th p hơn so với khung hình phạt kho n 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “từ 2 năm tù đến 7 năm tù”. Do vậy, cần sửa b n án sơ thẩm, áp dụng kho n 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 đ i với bị cáo Minh T; áp dụng kho n 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 đ i với bị cáo Ng, bị cáo T; áp dụng nguyên t c có lợi cho các bị cáo Ng, bị cáo T theo quy định Nghị quy t s 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c Hội; kho n 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm d kho n 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 là phù hợp.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, kháng cáo của bị hại về hình phạt và b lọt người phạm tội; đ i chi u với tài liệu chứng cứ thể hiện:

- Theo lời khai của các bị cáo, lời khai bà N về diễn bi n bàn bạc tại nhà bà N, bị cáo Ngọc T và các bị cáo đồng ý “xuống đất tranh chấp, nếu ng S vẫn tiếp tục làm thì can ngăn”. Đ i với anh Sang, anh Minh tuy cũng có mặt nhưng không tham gia đánh nhau. Về nội dung này, Cơ quan điều tra đã làm rõ nhưng không có chứng cứ nào khác, nên không có căn cứ chứng minh bà N là người xúi dục các bị cáo đ n đ t tranh ch p để đánh bị hại. Đ i với anh Sang, anh Minh bị khởi t về tội “gây rối trật tự c ng cộng”; sau khi giám định lại, xác định thương tích bị hại 30%, nên Cơ quan điều tra đã đình chỉ đ i với anh Sang, anh Minh là phù hợp. Do vậy, không ch p nhận kháng cáo này của bị hại.

- Về hành vi các bị cáo thực hiện như bị cáo Minh T và bị hại ông S ôm vật, trong đó bị hại ông S đè lên người bị cáo Minh T; bị cáo Ngọc T là em rể của bị cáo Minh T dùng cây đánh vào vai bị hại gây thương tích; bị cáo Ng là con của bị cáo Minh T dùng dao chém bị hại gây thương tích. Sau khi bị hại và các bị cáo Ngọc T, bị cáo Ng không còn đánh nhau nữa, bị cáo T dùng cây và bị hại dùng cu c đánh nhau nhưng không gây thương tích thể hiện bị cáo T ti p nhận ý chí của bị cáo Ngọc T, bị cáo Ng và tham gia với vai trò thứ y u. Các bị cáo gây thương tích cho bị hại 83 tuổi, nên bị áp dụng tình ti t tăng nặng quy định tại điểm i kho n 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do vậy, c p sơ thẩm đánh giá vai trò t ng bị cáo, trong đó bị cáo Ng thực hiện hành vi nguy hiểm nh t, nên bị cáo ph i chịu trách nhiệm cao nh t là phù hợp. Bị cáo Minh T bị ông S ôm vật đè lên người và đánh bị cáo Minh T trong điều kiện ruộng sình, có nước. Do vậy cần áp dụng thêm kho n 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự để quy t định hình phạt đ i với bị cáo Minh T là th a đáng, Đ i với bị cáo T vai trò thứ y u, trong khi đó c p sơ thẩm quy t định 30 tháng là chưa đánh giá vai trò của bị cáo.

Ngoài ra, các bị cáo được áp dụng các tình ti t gi m nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo; đã bồi thường một phần thiệt hại được 50.000.000đ trong quá trình điều tra, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T, bị cáo Ng còn nộp bồi thường thêm 40.000.000đ nên được áp dụng quy định điểm b, s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Mặt khác, căn cứ vào các tình ti t vụ án thể hiện bị hại đánh bà N, bị cáo T ngày 26-6-2013, nên t nguyên nhân này x y ra gây thương tích ngày 28-6-2013. Ngoài ra, bị cáo Minh T là cha của bị cáo T, bị cáo Ng; trong khi đó bị cáo Minh T, bị cáo T nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, không ch p nhận kháng cáo của bị hại ông S cáo tăng hình phạt đ i với các bị cáo, không ch p nhận kháng cáo của bị cáo Ng; giữ nguyên mức hình phạt đ i với bị cáo Ng, bị cáo Minh T; ch p nhận kháng cáo của bị cáo T, áp dụng áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, giám một phần hình phạt và cho bị cáo được c i tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ng a chung, không gây nguy hiểm cho xã hội; không nh hưởng x u đ n an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[4] Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra vụ án, bị hại ông Đinh S chỉ nộp b n phô tô các hóa đơn chứng t trong việc điều trị thương tích; đề nghị yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự trước tòa. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại ông Đinh S và người đại diện bị hại không xu t trình b n chính các hóa đơn chứng t trong việc điều trị thương tích. Tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu giao nộp thể hiện chi phí hợp lý cộng chung 121.644.000đ cụ thể như sau:

- Chi phí viện phí, thu c, các dịch vụ y t khác; chi phí thuê phương tiện c p cứu, chuyển viện thể hiện các hóa đơn chứng t t ngày 28-6-2013 đ n h t ngày 29-6-2013 cộng chung 6.506.000đ (các bút lục 347, 368, 365, 344, 346, 363, 364);

- Chi phí viện phí, thu c, các dịch vụ y t khác; chi phí thuê phương tiện tái khám thể hiện các hóa đơn chứng t t ngày 11-7-2013 đ n h t ngày 19-7-2013 cộng chung làm tròn s 27.034.000đ (các bút lục 361, 362, 366, 367, 331, 332, 333, 334, 335, 337, 336, 338, 339, 361,362);

- Chi phí viện phí, thu c, các dịch vụ y t khác; chi phí thuê phương tiện tái khám thể hiện các hóa đơn chứng t t ngày 03-8-2013 đ n h t ngày 22-8-2013 cộng chung làm tròn s 10.216.000đ (các bút lục 358, 343, 328, 349, 350, 352, 354, 357, 360, 353, 356, 369, 342);

- Chi phí viện phí, thu c, các dịch vụ y t khác; chi phí thuê phương tiện tái khám thể hiện các hóa đơn chứng t t ngày 27-10-2013 đ n h t ngày 30-10-2013 cộng chung làm tròn s 1.005.000đ (các bút lục 326, 330);

- Chi phí viện phí, thu c, các dịch vụ y t khác; chi phí thuê phương tiện tái khám thể hiện các hóa đơn chứng t t ngày 24-12-2013 đ n h t ngày 25-12-2013 cộng chung làm tròn s 6.183.000đ (các bút lục 340, 348, 359, 329);

- Chi phí hợp đi lại để giám định, giám định lại 10.000.000đ. Tổn th t tinh thần 41.700.000đ tương ứng 30 tháng lương cơ sở;

Về các kho n thiệt hại khác như bồi dưỡng nằm viện 345.000.000đ; bồi dưỡng sau khi xu t việt 60.000.000đ; cần ch p nhận một phần thiệt hại này cộng chung 13.000.000đ; Thu nhập bị m t của người chăm sóc 408.000.00đ; trong khi đó nằm viện t ngày 28-6-2013 đ n ngày 11-7-2013; tái khám tại Vệnh viện tỉnh Lâm Đồng và các Bệnh viện tài Thành ph Hồ Chí Minh 05 lần, nên cần ch p nhận một phần về thiệt hại này là 6.000.000đ;

Đ i với yêu cầu thu nhập bị m t của bị hại 60.000.000đ là không ch p nhận. Bởi lẽ bị hại trên 80 tuổi không còn tuổi lao động. Đ i với kho n tiền 4.500.000đ thuê xe đi Thành ph Hồ Chí Minh ngày 22-9-2013 (bút lục 341) nhưng không thể hiện việc đi tái khám và sau đó cũng không thể hiện việc mua thu c theo chỉ định của Bác sỹ, của Bệnh viện, nên không ch p nhận.

Do vậy, căn cứ hành vi các bị cáo thực hiện, cần buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho bị hại s tiền 121.644.000đ, theo phần bị cáo Ng 40.000.000đ, bị cáo Ngọc T 40.000.000đ, bị cáo Minh T 26.644.000đ; bị cáo T 20.000.000đ. Đ i với bị cáo Ngọc T ch t, nhưng có tài s n, đã xác định người k th a gồm bà N là vợ bị cáo Ngọc T, các cháu Hân, Trân, Lộc, Hi u là con bị cáo Ngọc T. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà N nhận chịu trách nhiệm bồi thường thay cho bị cáo Ngọc T, nên cần ch p nhận.

Quá trình điều tra, bà N tự nguyện nộp 50.000.000đ (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/02/2014 tại Chi cục THAD huyện Đ), xác định nộp bồi thường kh c phục chung cho các bị cáo, với lý do lẽ bị cáo Ngọc T là chồng, bị cáo Minh T là anh ruột; các bị cáo T, Ng là cháu ruột kêu bằng cô, nên cần tạm giữ để b o đ m đi hành án.

Ngày 28-5-2019, bị cáo Ng, bị cáo T nộp s tiền cộng chung 40.000.000đ (biên lai thu số 0000328 ngày 05/5/2019 của Chi cục THAD huyện Đ); trong đó bị cáo Ng 20.000.000đ; bị cáo T 20.000.000đ cần tạm giữ để b o b m thi hành án.

[5] Về án phí: Do sửa b n án sơ thẩm, nên các bị cáo Ng, bị cáo Minh T, bị cáo T, bị hại ông S không ph i chịu án phí phúc thẩm;

- Về án phí hình sự sơ thẩm, do bị cáo Ngọc T ch t và đã được hủy đình chỉ, nên không ph i chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho các bị cáo để thực hiện việc bồi thường.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ kho n 7 Điều 157; điểm d kho n 1 Điều 355; kho n 2 Điều 359 của Bộ luật T tụng hình sự; Tiểu mục b2, mục b phần II Thông tư liên tịch s 03/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25-12-2000 của Toà án nhân dân t i cao; Viện Kiểm sát nhân dân t i cao; căn cứ điểm a, b kho n 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 của Bộ luật T tụng hình sự; Không ch p nhận kháng cáo của bị hại; ch p nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Trung Ng; bị cáo Trần Minh T, bị cáo Trần Hàn T; sửa b n án sơ thẩm, xử:

1. Hủy một phần b n án s 37/2019/HS-ST ngày 05-4-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ và đình chỉ đ i với bị cáo Lương Ngọc T đã ch t.

2. Tuyên b các bị cáo Trần Trung Ng, bị cáo Trần Hàn T, bị cáo Trần Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Áp dụng kho n 2 Điều 134; điểm b, s kho n 1 Điều 51; điểm i kho n 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015 đ i với các bị cáo Trần Trung Ng, bị cáo Trần Hàn T. Bị cáo Trần Hàn T được áp dụng thêm kho n 2 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.

- Xử phạt bị cáo Trần Trung Ng 36 tháng tù, thời hạn tù tính t ngày b t giam để thi hành án; được tr thời gian tạm giữ, tạm giam t ngày 28-11-2013 đ n ngày 15-01-2014.

- Xử phạt bị cáo Trần Hàn T 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính t ngày tuyên án phúc thẩm.

Áp dụng kho n 1 Điều 134, điểm b, s kho n 1 Điều 51; điểm i kho n 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 đ i với bị cáo Trần Minh T;

- Xử phạt bị cáo Trần Minh T 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính t ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Hàn T, bị cáo Trần Minh T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc Thi hành án thực hiện theo qui định tại khoản 1 điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm Ng vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về bồi thường: Buộc các bị cáo Trần Trung Ng, bị cáo Trần Minh T, bị cáo Trần Hàn T, bà Trần Thị N liên đới bồi thường cho bị hại ông Đinh S s tiền 121.644.000đ, theo phần bị cáo Trần Trung Ng là 40.000.000đ, bà N 40.000.000đ (thay phần của bị cáo Ngọc T), bị cáo Trần Minh T 26.644.000đ; bị cáo Trần Hàn T 20.000.000đ.

- Tạm giữ s p tiền 90.000.000d để b m thi hành án, theo biên b n ngày 11/02/2014; biên lai thu s 0000328 ngày 05/6/2019 của chi cục THADS huyện Đ để b o đ m thi hành án.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật T tụng hình sự; Nghị quy t 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lương Ngọc T không ph i chịu án phí hình sự sơ thẩm; m i bị cáo Trần Trung Ng, bị cáo Trần Hàn T, bị cáo Trần Minh T ph i nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm; Miễn án phí dân sự cho các bị cáo Ng, bị cáo T, bị cáo Minh T, bà Trần Thị N.

5. Các quy t định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể t ngày h t hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ