vanban.org

Bản án 49

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 12/03/2026 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

1. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T1: 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quâ…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 304 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 49/2026/HS- ST
Ngày 12 tháng 03 năm 2026

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Chung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến

Ông Lý Đình Đạt

- Thƣ ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến T - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 03 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2026/HSST ngày 20 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2026/QĐXXST- HS ngày 23/02/2026 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đỗ Văn T1, sinh năm 1980; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 05/12; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ dân phố C, xã N, tỉnh Bắc Ninh; Họ tên cha: Đỗ Văn L, sinh năm 1943 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1947 (đã chết); Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1983; Con: 03 con (con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 11/6/2025 đến ngày 20/6/2025. Hiện đang được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

2. Họ và tên: Đỗ Ngọc A, sinh năm 1992; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 09/12; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ dân phố C, xã N, tỉnh Bắc Ninh; Họ tên cha: Đỗ Ngọc T2, sinh năm 1968; Họ tên mẹ: Tạ Thị V, sinh năm 1971; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Lê Thị Ngọc Á, sinh năm 1997; Con: 03 con (con lớn với vợ trước sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú. Hiện đang được áp dụng biện pháp biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

3. Họ và tên: Phạm Ngọc Q, sinh năm 1983; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 12/12; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn B, xã N, tỉnh Bắc Ninh; Họ tên cha: Phạm Ngọc M, sinh năm 1954; Họ tên mẹ: Đỗ Thị H, sinh năm 1961; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1985; Con: 03 con (con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2013); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 11/6/2025 đến ngày 20/6/2025. Hiện đang được áp dụng biện pháp biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Đỗ Ngọc T2, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ: TDP CN, xã Nhã Nam, tỉnh Bắc Ninh

2. Ông Lê Mạnh T4, sinh năm 1991 (có mặt)

Địa chỉ: TDP T, xã N, tỉnh Bắc Ninh

* Người làm chứng:

1. Bà Cao Thị Thùy C1, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn TH, xã Tân Yên, tỉnh Bắc Ninh

2. Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: TDP N, xã T, tỉnh Bắc Ninh

* Người chứng kiến:

Ông Đinh Hữu T5, sinh năm 1960 (vắng mặt)

Địa chỉ: TDP T, xã N, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 11/6/2025, tại B thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là xã N, tỉnh Bắc Ninh), Phòng C4 Công an tỉnh B bắt quả tang Phạm Ngọc Q, sinh năm 1983, trú tại thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là xã N, tỉnh Bắc Ninh) về hành vi mua bán trái phép vũ khí quân dụng. Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) bao tải dứa màu xanh, mặt ngoài dán mảnh giấy ghi chữ mực xanh có nội dung “gửi 0798.415.998, nhận 0911.855.841, N - Q, Hà Giang nhờ xe gọi trước thu hộ 13.000.000”, bên trong đựng hộp giấy cát tông màu vàng, bên trong có túi nilon màu trắng (dạng túi chống sóc) bọc các đồ vật gồm:

+ 01 (một) vật hình dạng khẩu súng bằng kim loại màu đen có tổng chiều dài 85 cm, phần báng (có thể gấp lại được) và tay cầm bằng nhựa màu đen, phần thân có chữ “FXairguns” gắn bình hơi khí nén, van gắn đồng hồ có chữ “Cricketz – 1000”, kính ngắm có chữ “MARCOOL”;

+ 01 (một) ống giảm thanh bằng kim loại màu đen có chiều dài 17 cm, đường kính 3cm;

+ 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong có 225 viên kim loại hình nấm;

+ 01 (một) hộp nhựa màu trắng, bên trong có 650 viên kim loại hình nấm;

+ 01 (một) mảnh xốp trắng.

Tất cả được niêm phong trong 01 bao tải dứa màu trắng, ký hiệu “QT1”.

- 01 bảo tải dứa màu trắng mặt ngoài dán mảnh giấy ghi nội dung “nhận 0912.270.010, Xuân L1, L, Phú Thọ nhà xe gọi trước 3 tiếng thu hộ 21.500.000” đựng hộp giấy cát tông màu vàng, bên trong có túi nilon màu trắng (dạng túi chống sóc) bọc các đồ vật gồm:

+ 01 (một) vật hình dạng khẩu súng bằng kim loại màu đen có tổng chiều dài 60,5 cm, phần tay cầm bằng gỗ màu đen, phần thân có chữ “Airforce” gắn kính ngắm có chữ “DiscoveryOPT”;

+ 01 (một) vật hình dạng khẩu súng bằng kim loại màu đen có tổng chiều dài 59,5 cm, phần tay cầm bằng gỗ màu đen, phần thân có chữ “Airforce” gắn kính ngắm có chữ “DiscoveryOPT”;

+ 02 (hai) ống giảm thanh có đặc điểm tương tự nhau, bằng kim loại màu đen, trên thân có chữ “AIRFORCE” chiều dài 30 cm, đường kính 3,5 cm.

+ 02 (hai) bình kim loại có đặc điểm tương tự nhau, màu ghi xám có chữ “PADAK” và các chữ nước ngoài gắn van có chữ “Cricket” có 02 đồng hồ đo tổng chiều dài 37 cm;

+ 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có 593 viên kim loại hình nấm.

Tất cả được niêm phong trong 01 bao tải dứa màu trắng, ký hiệu “QT2”. (BL 101 – 103)

Ngoài ra, còn thu giữ của Q 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA mang biển kiểm soát 30A-780.97, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 690976 mang tên Nguyễn Thanh T6 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Ngọc Q. Kết quả, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan. Phạm Ngọc Q khai nguồn gốc số vật chứng nghi là vũ khí quân dụng thu giữ khi bị bắt quả tang là do Đỗ Văn T1, sinh năm 1980, trú tại tổ dân phố C, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là xã N, tỉnh Bắc Ninh) giao cho Q để gửi cho người mua hàng. Ngày 11/6/2025, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T1. Kết quả, thu giữ tại khu vực trong gian nhà ngang (sát nhà ở) của gia đình Thức các vật chứng gồm:

- 01 (một) vật hình dạng khẩu súng có phần thân bằng kim loại sơn màu đen, có chiều dài 99 cm, phần ốp lót tay bằng gỗ sơn màu đen, trên thân được lắp 01 chiếc kính ngắm, vỏ sơn màu đen có nắp chụp màu đen, trên thân súng có chữ “AIRFORCE CRICKET”, trên thân gắn 02 đồng hồ đo áp suất có chữ “CRICKET”.

- 01 (một) vật hình dạng khẩu súng có phần thân bằng kim loại sơn màu đen, có chiều dài 91 cm, trên thân súng có chữ “Cricket z – 1000, Gemtech”, trên thân có gắn 01 bình hơi khí nén bằng kim loại sơn màu đen và 02 đồng hồ đo áp suất, trên thân có gắn 01 băng đạn bằng kim loại, 01 chiếc kính ngắm màu đen, báng súng bằng nhựa sơn màu đen.

Tất cả được niêm phong trong 01 bao tơ dứa, niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và hình dấu của Công an thị trấn N trên dải niêm phong.

- 14 (mười bốn) vật bằng kim loại, sơn màu đen, có bộ phận cò, lò xo, thoi đẩy bằng kim loại màu trắng trên thân có chữ “FXTranformer” (Đỗ Văn T1 trình bày là quy súng); được cho vào 01 hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “2”.

Ngoài ra, thu giữ nhiều đồ vật nghi ngờ là linh kiện súng, niêm phong trong các hộp bìa cát tông, ký hiệu “1,3,4,5,6,7,8,9”; các công cụ sử dụng để lắp ráp súng, niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông, ký hiệu “10” và 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (BL 122 – 126). Ngày 11/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B chuyển nguồn tin về tội phạm cùng các tài liệu, vật chứng đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B để giải quyết theo thẩm quyền. Đỗ Văn T1 khai nguồn gốc một số linh kiện súng thu giữ tại nhà T1 là mua của Đỗ Ngọc A, sinh năm 1992, trú tại tổ dân phố C, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là xã N, tỉnh Bắc Ninh). Ngày 12/6/2025, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Ngọc A. Kết quả, thu giữ trong tủ thờ sát tường bên phải cầu thang tầng 2 và khu vực giữa sảnh tầng 2 của nhà Ngọc A các vật chứng gồm: 01 (một) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, chiều dài 91 cm, gồm giảm thanh, nòng súng, thân súng, cò súng, báng súng; 05 (năm) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, có in chữ “FXairguns” và một số đồ vật khác; đều nghi là linh kiện súng. Tất cả được niêm phong trong 01 (một) hộp bìa cát tông, ký hiệu “GĐ1”(BL 148; BL 443 – 444.).

Tại Kết luận giám định số 1171/KL-KTHS ngày 18/6/2025 của Phòng C4 Công an tỉnh B, kết luận:

- Mẫu vật gửi giám định được niêm phong, ký hiệu “QT1” là súng hơi cỡ nòng 5,5 mm, thuộc vũ khí quân dụng, hiện còn sử dụng để bắn được.

- Các mẫu vật gửi giám định được niêm phong, ký hiệu “QT2” lắp ráp thành 02 (hai) khẩu súng hoàn chỉnh là súng hơi cỡ nòng 5,5 mm, thuộc vũ khí quân dụng, hiện còn sử dụng để bắn được.

- 02 (hai) vật hình dạng khẩu súng được niêm phong trong bao tải dứa là súng hơi cỡ nòng 5,5 mm, thuộc vũ khí quân dụng, sử dụng để bắn được.

- Các cụm chi tiết được niêm phong trong hộp cát tông ký hiệu số “2” là linh kiện cơ bản lắp ráp súng hơi, thuộc vũ khí quân dụng. Các chi tiết, cụm chi tiết niêm phong trong hộp cát tông ký hiệu “1,3,4,5,6,7,8,9” không phải linh kiện cơ bản lắp ráp súng. Các chi tiết, cụm chi tiết này không lắp ráp được thành khẩu súng hoàn chỉnh.

- Các viên kim loại hình nấm gửi giám định là đạn chì, cỡ 5,5 mm, được sử dụng để bắn cho súng hơi, cỡ nòng 5,5 mm, thuộc vũ khí quân dụng (BL110 – 112).

Tại Kết luận giám định số 1271/KL-KTHS ngày 27/6/2025 của Phòng C4 Công an tỉnh B và Công văn số 472/PC09 ngày 21/10/2025 của Phòng C4 Công an tỉnh B, kết luận:

- Vật hình dạng khẩu súng, có chiều dài 91 cm gửi giám định là linh kiện cơ bản lắp ráp súng nén hơi, thuộc vũ khí quân dụng.

- 03 (ba) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, có chữ Fxairguns gửi giám định là linh kiện cơ bản lắp ráp súng nén hơi, thuộc vũ khí quân dụng. (Không kết luận về 02 (hai) cụm chi tiết gửi giám định có đặc điểm bên ngoài tương tự với 03 (ba) cụm chi tiết trên do đã han rỉ, không còn hoạt động được).

- Các chi tiết, cụm chi tiết còn lại không phải linh kiện cơ bản lắp ráp súng. Các chi tiết, cụm chi tiết gửi giám định không lắp ráp được thành khẩu súng hoàn chỉnh. (BL 118 – 119; BL 120C)

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận về diễn biến hành vi phạm tội như sau: Khoảng tháng 11/2024, Đỗ Văn T1 nảy sinh ý định mua các linh kiện súng về tự lắp ráp thành khẩu súng hoàn chỉnh để bán kiếm lời. Thông qua mạng xã hội Facebook, T1 liên hệ với 01 trang Facebook (không nhớ tên) hỏi mua các linh kiện súng và cho người này số điện thoại của mình. Sau đó, T1 thấy có 01 tài khoản Zalo đăng ký tên “Giải trí” liên hệ với T1, T1 đặt mua các linh kiện súng và đạn chì (không nhớ số lượng cụ thể) với giá khoảng 50.000.000 đồng, hẹn nhận hàng ở khu vực Cầu T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 04 ngày sau, tại điểm hẹn, T1 nhận 03 thùng hàng (bên trong chứa các linh kiện súng và đạn chì) thông qua xe khách (không nhớ biển kiểm soát và tên nhà xe), T1 trả cho nhà xe số tiền 50.000.000 đồng bằng tiền mặt và mang về nhà, cất giấu tại tủ quần áo ở gian nhà ngang của gia đình T1. Khoảng tháng 02/2025, T1 biết Đỗ Ngọc A bán các linh kiện súng nên mua của Ngọc A khoảng 05 bộ quy súng (được hiểu là bộ phận cò súng), kèm theo một số linh kiện khác với giá 7.000.000 đồng; Thức trả tiền Ngọc A bằng tiền mặt. T1 sử dụng tài khoản Facebook mang tên “Bảo Anh PCP 4” đăng các bài viết bán súng hơi PCP, kèm theo số điện thoại của T1 để liên hệ. Khi có khách mua hàng, T1 sử dụng các linh kiện súng nói trên, lắp ráp thành khẩu súng hoàn chỉnh, đóng gói kèm thông tin khách hàng rồi gửi qua xe khách. Thông qua các lần gửi hàng, T1 quen biết Phạm Ngọc Q – là lái xe khách tuyến N, Bắc Giang - M, Hà Nội. T1 nói cho Q biết về việc bản thân bán súng hơi nén khí PCP, thống nhất sau khi T1 đóng gói súng vào các kiện hàng kín, ghi rõ thông tin người mua trên kiện hàng thì giao cho Q; Q mang các kiện hàng nói trên giao cho người mua và thu tiền hộ T1. Sau khi nhận tiền, Q tự trừ tiền cước phí vận chuyển rồi trả lại cho T1 bằng tiền mặt. Trong các ngày 07/6/2025 và ngày 08/6/2025, tài khoản Zalo “Nguyễn T7” và “Nguyễn C2” liên hệ với T1 đặt mua súng nén hơi; trong đó, “Nguyễn Trường” đặt mua 01 khẩu súng nén hơi “FX” và “Nguyễn C2” đặt mua 02 khẩu súng nén hơi “Condor”. Thức yêu cầu những người này đặt cọc số tiền 500.000 đồng/01 người bằng cách gửi mã thẻ điện thoại. Sau khi nhận được tiền cọc, T1 sử dụng các linh kiện súng, lắp ráp thành khẩu súng hoàn chỉnh, tặng kèm thêm đạn chì (không nhớ số lượng cụ thể), rồi cho vào bao dứa, dán kín và ghi thông tin người mua bên ngoài (đối với đơn hàng của “Nguyễn C2”, sau khi lắp xong 02 khẩu súng, T1 tháo rời thành các cụm linh kiện rồi mới đóng gói). Sau đó, T1 để 02 kiện hàng trên ở khu vực gần cổng nhà T1 và liên hệ với Q đến lấy hàng để giao cho người mua. Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 10/6/2025, Q điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 30A - 780.97 đến lấy 02 kiện hàng trên mang về nhà. Khoảng hơn 04 giờ sáng ngày 11/6/2025, Q điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 30A - 780.97, chở theo 02 kiện hàng đến bến xe khách thị trấn N để vận chuyển hàng đến bến xe M, giao cho các xe khách khác gửi cho người mua. Khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, tại B thị trấn N, khi Q đang dỡ kiện hàng từ xe ô tô xuống thì bị Công an bắt quả tang. Tiến hành cho Đỗ Văn T1 nhận dạng 05 khẩu súng nén hơi thu giữ của T1, T1 xác định được trong số 05 khẩu súng nói trên có 02 khẩu súng sử dụng bộ phận quy súng (cò súng) có đặc điểm trên thân in chữ “K2” và “FXairguns” là quy súng mua của Đỗ Ngọc A. Tiến hành cho Đỗ Ngọc A nhận dạng 02 khẩu súng trên, Ngọc A xác định bộ phận quy súng của 02 khẩu súng này giống với các quy súng Ngọc A bán cho T1 vào tháng 02/2025 và giống với các quy súng Ngọc A tàng trữ tại nhà (bị Công an thu giữ trong quá trình khám xét).

Các vật chứng hoàn lại sau giám định cùng các đồ vật, tài sản khác đều được nhập kho vật chứng theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 26 /CT-VKSBN-P1 ngày 05/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Đỗ Văn Thức về tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015; Bị cáo Đỗ Ngọc A về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015; Bị cáo Phạm Ngọc Q về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản cáo trạng đã truy tố, các bị cáo xác nhận không oan, sai gì và xin hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Mạnh T4 trình bày: Khoảng năm 2023 anh có bán cho bị cáo Đỗ Văn T1 1 thước ngắm. Thước ngắm này do anh đặt mua trên mạng để sử dụng mục đích cá nhân.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và người chứng kiến vắng mặt đã được Hội đồng xét xử công bố lời khai, các bị cáo nhất trí không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1- Về tội danh

1.1. Đối với bị cáo Đỗ Văn T1:

+ Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T1 20 tháng đến 24 tháng tù về tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời hạn đã bị tạm giữ (từ ngày 11/6/2025 đến ngày 20/6/2025).

Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

1.2. Đối với bị cáo Đỗ Ngọc A:

+ Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc A từ 18 tháng đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 40 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Giao bị cáo cho UBND xã N, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

1.3. Đối với bị cáo Phạm Ngọc Q:

+ Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, giao bị cáo cho UBND xã N, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

2- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

* Giao Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B xử lý theo quy định đối với các vật chứng là vũ khí quân dụng. Gồm:

- 01 (một) bao tải dứa màu trắng được niêm phong ký hiệu “QT Quỳnh 2”, bên trong có: 01 (một) bao tải dứa màu trắng, bên trong có:

+ 01 (một) khẩu súng màu đen, chiều dài 85 cm, phần báng và tay cầm bằng nhựa màu đen, phần thân có chữ “Fxairguns” “Cricket z-1000”, gắn bình hơi khí nén, van gắn đồng hồ có chữ “Cricket”, kính ngắm màu đen có chữ “MARCOOL”, súng có gắn băng đạn bằng kim loại màu xám.

+ 01 (một) ống giảm thanh bằng kim loại, màu đen, chiều dài 17 cm, đường kính 03 cm.

+ 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong có 225 (hai trăm hai mươi năm) viên kim loại hình nấm;

+ 01 (một) hộp nhựa, màu trắng bên trong có 650 (sáu trăm năm mươi) viên kim loại hình nấm.

- 01 (một) bao tải dứa màu trắng được niêm phong ký hiệu “QT Quỳnh 1”, bên trong có: 01 (một) bao tải dứa màu xanh, bên trong có:

+ 01 (một) khẩu súng bằng kim loại màu đen, có chiều dài 60,5 cm, phần tay cầm bằng gỗ màu đen, phần thân có chữ “Airforce”, gắn kính ngắm có chữ “DISCOVERYOPT”.

+ 01 (một) khẩu súng bằng kim loại, màu đen, có chiều dài 59,5 cm, phần tay cầm bằng gỗ, màu đen, trên thân có chữ “Airforce”, gắn kính ngắm có chữ “DISCOVERYOPT”.

+ 02 (hai) ống giảm thanh có đặc điểm tương tự nhau, bằng kim loại, màu đen, trên thân có chữ “AIRFORCE”, có chiều dài 30 cm, đường kính 3,5 cm.

+ 02 (hai) bình kim loại có đặc điểm tương tự nhau, màu xám, có chữ “PADAK” gắn van điều áp, có tổng chiều dài 37 cm.

+ 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có 588 (năm trăm tám mươi tám) viên kim loại hình nấm.

- 01 (một) bao tơ dứa màu trắng được niêm phong ký hiệu “KX Thức”, bên trong có:

+ 01 (một) khẩu súng bằng kim loại, màu đen có chiều dài 99 cm, phần ốp lót tay bằng gỗ màu đen, gắn kính ngắm màu đen, có nắp chụp màu đen, thân súng có gắn giảm thanh có chữ “AIRFORCE”, thân súng gắn 02 (hai) đồng hồ đo áp suất có chữ “CRICKET”.

+ 01 (một) khẩu súng bằng kim loại, màu đen, chiều dài 91 cm, trên thân súng có chữ “CRICKET Z – 1000”, có gắn ống giảm thanh có chữ “GEMTECH”, thân có gắn 01 bình hơi nén khí bằng kim loại màu đen và 02 đồng hồ đo áp suất, thân súng có gắn 01 băng đạn bằng kim loại, 01 kính ngắm màu đen, báng súng bằng nhựa màu đen.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “2”, bên trong có: 14 (mười bốn) vật bằng kim loại, sơn màu đen, có bộ phận cò, lò xo, thoi đẩy bằng kim loại màu trắng, trên thân có chữ “FX Tranformer”.

- Các cụm chi tiết gồm: 01 (một) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, hình dạng khẩu súng, có chiều dài 91 cm, gồm giảm thanh, nòng súng, thân súng, cò súng, báng súng; 05 (năm) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, có chữ F (được niêm phong trong 01 (một) thùng bìa cát tông ký hiệu “NA1”).

* Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện không có giá trị sử dụng, được sử dụng vào mục đích phạm tội; gồm:

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “1”, bên trong có: 28 (hai mươi tám) vật kim loại hình dạng băng đạn súng hơi khí nén.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “3”, bên trong có: 15 (mười lăm) vật hình dạng nắp van điều áp bằng kim loại, sơn màu đen, phí trong có ren xoắn.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “4”, bên trong có: 35 (ba mươi lăm) vật bằng kim loại, màu đen, trên thân có chữ “Cricket”.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “5”, bên trong có: 04 (bốn) tay cầm bằng nhựa, màu đen được đựng trong túi nilon màu trắng, kèm theo 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong đựng 10 con ốc và 01 (một) vật bằng kim loại màu đen; 09 (chín) vật bằng nhựa hình chữ “A”; 07 (bảy) vật hình dạng ốp lót tay bằng nhựa, màu đen.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “6”, bên trong có: 13 (mười ba) vật kim loại màu đen, trên thân có chữ “Cricket”; 03 (ba) van điều áp gắn đồng hồ, trên thân có chữ “Cricket”; 17 (mười bảy) vật bằng kim loại hình trụ, sơn màu vàng; 05 (năm) vật kim loại hình dạng số “8”, sơn màu đen; 04 (bốn) vật bằng kim loại hình trụ, sơn màu đen trên thân có chữ “XPOWER”; 07 (bảy) vật hình trụ, sơn màu đen có chiều dài 18 cm; 05 (năm) vật hình trụ bằng kim loại, sơn màu đen, trên thân có chữ “GEMTECH”.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “7”, bên trong có: 19 (mười chín) hộp cát tông màu trắng, bên trong mỗi hộp có 02 (hai) vật bằng kim loại, sơn màu đen và thanh kim loại hình chữ “L”; 39 (ba mươi chín) vật hình trụ bằng nhựa, màu đen; 09 (chín) hộp cát tông màu trắng – xanh bên trong đựng bộ đèn lazer.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “8”, bên trong có: 12 (mười hai) ống kính ngắm màu đen, trên thân có chữ “DISCOVERYOPT”.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “9”, bên trong có: 19 (mười chín) túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi có 02 (hai) chiếc lò xo bằng kim loại màu đen; 02 (hai) vật hình trụ bằng kim loại, sơn màu vàng; 01 (một) vật hình trụ màu vàng, một đầu gắn vòng nhựa màu đen; 01 (một) vật hình trụ màu vàng, gắn 01 (một) vật bằng nhựa, màu đen; 01 (một) vật bằng kim loại, một đầu có ren xoắn; 01 (một) vật hình trụ bằng nhựa, màu đen; 01 (một) túi nilon bên trong có 14 (mười bốn) vật hình tròn bằng nhựa, màu đen và 09 (chín) con ốc; 05 (năm) chiếc bình kim loại hình trụ, màu đen.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “10”, bên trong có: 01 (một) máy cắt màu xanh trên thân có chữ MAKITA; 01 (một) chiếc tua vít cán bằng nhựa màu vàng có chữ GOODMAN; 02 (hai) chiếc cà lê bằng kim loại.

- 01 (một) thùng bìa cát tông, ký hiệu “GĐ1”, bên trong đựng:

+ 01 (một) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, có chữ E;

+ 01 (một) vật bằng kim loại màu đen, có gắn cò súng, dài 13 cm;

+ 04 (bốn) vật bằng kim loại màu đen, có chữ “AIRFORCE”;

+ 01 (vật) bằng gỗ màu nâu, dài 65 cm, nghi là báng súng.

+ 01 (một) vật hình trụ bằng kim loại màu đen, hình dạng ống giảm thanh, dài 32 cm, có chữ “Santafe”.

+ 04 (bốn) vật hình trụ bằng kim loại, hình dạng ống giảm thanh, màu đen, dài 20,5 cm, có chữ “GEMTECH”.

+ 01 (một) vật hình trụ bằng kim loại, dạng hình ống giảm thanh, màu đen, dài 14,5 cm, có chữ “Bushnell”.

+ 11 (mười một) chiếc kính ngắm màu đen, hai đầu có nắp chụp màu đen, trên thân có chữ “MARCOOL”.

+ 03 (ba) vật bằng nhựa, hình dạng tay cầm súng, màu đen.

+ 02 (hai) vật bằng gỗ, hình dạng tay cầm súng, màu nâu.

+ 01 (một) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, có gắn đồng hồ đo áp suất, trên thân có chữ “Super well”.

+ 26 (hai mươi sáu) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, nghi là bộ phận lắp vào chân kính ngắm.

+ 24 (hai mươi bốn) đồng hồ đo áp suất.

+ 03 (ba) cụm chi tiết nghi là ruột súng.

+ 04 (bốn) vật bằng kim loại, hình dạng băng đạn súng nén hơi.

+ 06 (sáu) bộ Đ.

+ 05 (năm) thanh kim loại hình trụ rỗng có kích thước khác nhau.

+ 02 (hai) vật hình trụ bằng kim loại màu đen, hình dạng bình khí nén.

+ 46 (bốn mươi sáu) vật bằng kim loại hình trụ, phía trong có ren ốc, nghi là nắp van điều áp.

* Tịch thu sung ngân sách nhà nước các công cụ, phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội, gồm:

- 01 (một) máy bơm hơi trên thân máy chữ N

- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng đồng của Đỗ Văn T1;

- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh đen, lắp ốp lưng bằng nhựa màu nâu của Phạm Ngọc Q.

* Trả lại bị cáo Đỗ Văn T1: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu đen, số Imei: 358733090307459, số Imei 2: 358733090373196, bên trong lắp sim điện thoại số 0335.382.313, không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

* Trả lại bị cáo Đỗ Ngọc A: 01 (một) case máy tính màu đen, trên thân có chữ CENTAUR không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

* Truy thu số tiền do các bị cáo phạm tội mà có. Cụ thể: Truy thu của Đỗ Văn T1 số tiền 1.000.000 đồng; truy thu số tiền 7.000.000 đồng của Đỗ Ngọc A.

3- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì.

Người có quyền lợi liên quan không có quan điểm tranh luận gì.

Không ai có ý kiến tranh luận gì thêm.

* Lời nói sau cùng của các bị cáo:

Bị cáo T1: Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Ngọc A: Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo Q: Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.

. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Một số người có quyền lợi liên quan, người làm chứng, người chứng kiến đã được tống đạt giấy báo phiên tòa hợp lệ; trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ là đảm bảo theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên toà, các bị cáo đã thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, phù hợp với các Kết luận giám định, vật chứng thu giữ, đã đủ căn cứ xác định:

Khoảng tháng 11/2024, thông qua mạng xã hội, Đỗ Văn T1, sinh năm 1980, trú tại tổ dân phố C, xã N, tỉnh Bắc Ninh mua các linh kiện súng và đạn chì về cất giấu tại nhà, mục đích để tự lắp ráp thành các khẩu súng hoàn chỉnh bán kiếm lời. Tháng 02/2025, T1 tiếp tục mua của Đỗ Ngọc A, sinh năm 1992, trú tại tổ dân phố C, xã N, tỉnh Bắc Ninh 05 linh kiện cơ bản của súng nén hơi (thuộc vũ khí quân dụng) với giá 7.000.000 đồng. Trong các ngày 07/6/2025 và ngày 08/6/2025, T1 sử dụng các linh kiện súng nói trên lắp ráp thành 03 khẩu súng hơi hoàn chỉnh, gửi kèm 1.468 viên đạn chì (đều thuộc vũ khí quân dụng), đóng gói thành 02 kiện hàng và báo cho Phạm Ngọc Q, sinh năm 1983, trú tại thôn B, xã N, tỉnh Bắc Ninh đến lấy mang giao cho người mua. Ngày 11/6/2025, tại Bến xe khách thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là xã N, tỉnh Bắc Ninh), khi Q đang mang 02 kiện hàng nói trên để giao cho người mua thì bị Công an bắt quả tang.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Văn T1, thu giữ 02 khẩu súng hơi và 14 linh kiện cơ bản của súng hơi, thuộc vũ khí quân dụng.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Ngọc A, thu giữ 04 linh kiện cơ bản của súng nén hơi, thuộc vũ khí quân dụng.

Đỗ Văn T1 phải chịu trách nhiệm về hành vi chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép 05 khẩu súng hơi, 1.468 viên đạn chì và 19 cụm linh kiện cơ bản của súng hơi, đều thuộc vũ khí quân dụng.

Đỗ Ngọc A phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ, mua bán trái phép 09 linh kiện cơ bản của súng nén hơi, thuộc vũ khí quân dụng.

Phạm Ngọc Q phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép 03 khẩu súng hơi và 1.468 viên đạn chì, thuộc vũ khí quân dụng.

Với hành vi phạm tội của các bị cáo nêu trên, bị cáo Đỗ Văn T1 đã phạm vào tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Đỗ Ngọc A đã phạm vào tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Phạm Ngọc Q phạm vào tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng số 26 /CT-VKSBN-P1 ngày 05/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố các bị cáo với hành vi, tội danh và điều luật trên là đúng quy định pháp luật, đúng người đúng tội, không oan sai.

. Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, xâm hại tới quy định của Nhà nước về sản xuất, quản lý vũ khí quân dụng, đe dọa đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu và gây tác hại về nhiều mặt đối với đời sống xã hội. Các bị cáo nhận thức rõ việc chế tạo, tàng trữ và mua bán vũ khí quân dụng mà không được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho loại tội phạm này.

. Xét vai trò của các bị cáo:

Bị cáo Đỗ Văn T1 có vai trò chính trong vụ án. Bị cáo thực hiện nhiều hành vi phạm tội, những hành vi phạm tội này liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện, là hậu quả tất yếu của hành vi phạm tội kia). Để đạt được mục đích trục lợi cá nhân của mình bị cáo đã có hành vi mua các linh kiện về tàng trữ để chế tạo, lắp ráp hoàn chỉnh thành khẩu súng hơi nén hoàn chỉnh rồi dùng điện thoại đưa lên mạng giao bán trái phép nhằm mục đích thu lời với số lượng súng và linh kiện nhiều nhất.

Bị cáo Đỗ Ngọc A có hành vi mua về để tàng trữ với mục đích bán kiếm lời trái phép 09 linh kiện cơ bản của súng nén hơi, thuộc vũ khí quân dụng (trong đó thực hiện 01 hành vi bán cho bị cáo Đỗ Văn T1) nên có vai trò thứ hai trong vụ án.

Bị cáo Phạm Ngọc Q mặc dù không phải là đối tượng tàng trữ, chế tạo vũ khí quân dụng. Tuy nhiên, bị cáo đã giúp sức cho bị cáo T1 trong việc mua bán vũ khí quân dụng để lấy tiền công vận chuyển. Do đó, bị cáo có vai trò đồng phạm, giúp sức cho bị cáo Đỗ Văn T1 về hành vi mua bán trái phép 03 khẩu súng hơi và 1.468 viên đạn chì, thuộc vũ khí quân dụng.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

- Xét về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đỗ Văn T1 và bị cáo Đỗ Ngọc A sau khi hành vi bị phát giác, các bị cáo đã ra cơ quan điều tra để đầu thú và khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình, bản thân bị cáo Đỗ Văn T1 đã có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự, bị cáo có bố là ông Đỗ Văn L được Bộ – Bộ Q1, bố vợ là ông Nguyễn Văn C3 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; bị cáo Phạm Ngọc Q ủng hộ Ủy ban nhân dân xã N cho quỹ người nghèo năm 2025. Ngày 07/3/2026 trên đường đi làm về bị cáo đã nhặt được một chiếc ví da bên trong có các giấy tờ tuỳ thân và số tiền 9.985.000đồng, bị cáo đã chủ động lên công an xã Q giao nộp và được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có thư khen ngợi. Do đó cần xem xét cho các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, nhân thân cùng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy đối với bị cáo Đỗ Văn T1 là tên có vai trò chính trong vụ án, bị cáo là tên đã chủ động mua bán các linh kiện súng về tự chế tạo hoàn chỉnh rồi giao bán nhằm mục đích thu lời bất chính, do đó cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và răn đe phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Đỗ Ngọc A và bị cáo Phạm Ngọc Q: sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bản thân bị cáo Đỗ Ngọc A mục đích mua về để sử dụng, nhưng do nể bị cáo T1 nên bị cáo đã bán lại cho bị cáo T1; bị cáo Phạm Ngọc Q được xác định là đồng phạm giúp sức vai trò không đáng kể trong vụ án, bản thân các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Để thể hiện tính khoan hồng của P, Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hành vi chế tạo, tàng trữ và mua bán trái phép vũ khí quân dụng của các bị cáo đều có mục đích nhằm trục lợi, do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

9.1. Quá trình điều tra, xác định chiếc xe ô tô mang biển kiểm sát 30A-780.97 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 690976 mang tên Nguyễn Thanh T6 là của anh Phạm Thanh T8, sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã N, tỉnh Bắc Ninh; anh T8 khai cho Q mượn xe ô tô trên nhưng không biết việc Q sử dụng vào mục đích phạm tội. Ngày 09/10/2025, Cơ quan điều tra ra quyết định trả lại chiếc ô tô và giấy chứng nhận cho anh T8 là có căn cứ.

9.2. * Giao Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B xử lý theo quy định đối với các vật chứng là vũ khí quân dụng. Gồm:

- 01 (một) bao tải dứa màu trắng được niêm phong ký hiệu “QT Quỳnh 2”, bên trong có: 01 (một) bao tải dứa màu trắng, bên trong có:

+ 01 (một) khẩu súng màu đen, chiều dài 85 cm, phần báng và tay cầm bằng nhựa màu đen, phần thân có chữ “Fxairguns” “Cricket z-1000”, gắn bình hơi khí nén, van gắn đồng hồ có chữ “Cricket”, kính ngắm màu đen có chữ “MARCOOL”, súng có gắn băng đạn bằng kim loại màu xám.

+ 01 (một) ống giảm thanh bằng kim loại, màu đen, chiều dài 17 cm, đường kính 03 cm.

+ 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong có 225 (hai trăm hai mươi năm) viên kim loại hình nấm;

+ 01 (một) hộp nhựa, màu trắng bên trong có 650 (sáu trăm năm mươi) viên kim loại hình nấm.

- 01 (một) bao tải dứa màu trắng được niêm phong ký hiệu “QT Quỳnh 1”, bên trong có: 01 (một) bao tải dứa màu xanh, bên trong có:

+ 01 (một) khẩu súng bằng kim loại màu đen, có chiều dài 60,5 cm, phần tay cầm bằng gỗ màu đen, phần thân có chữ “Airforce”, gắn kính ngắm có chữ “DISCOVERYOPT”.

+ 01 (một) khẩu súng bằng kim loại, màu đen, có chiều dài 59,5 cm, phần tay cầm bằng gỗ, màu đen, trên thân có chữ “Airforce”, gắn kính ngắm có chữ “DISCOVERYOPT”.

+ 02 (hai) ống giảm thanh có đặc điểm tương tự nhau, bằng kim loại, màu đen, trên thân có chữ “AIRFORCE”, có chiều dài 30 cm, đường kính 3,5 cm.

+ 02 (hai) bình kim loại có đặc điểm tương tự nhau, màu xám, có chữ “PADAK” và các chữ nước ngoài, gắn van điều áp có chữ “Cricket”, có 02 đồng hồ đo, chiều dài 37 cm.

+ 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có 588 (năm trăm tám mươi tám) viên kim loại hình nấm.

- 01 (một) bao tơ dứa màu trắng được niêm phong ký hiệu “KX Thức”, bên trong có:

+ 01 (một) khẩu súng bằng kim loại, màu đen có chiều dài 99 cm, phần ốp lót tay bằng gỗ màu đen, gắn kính ngắm màu đen, có nắp chụp màu đen, thân súng có gắn giảm thanh có chữ “AIRFORCE”, thân súng gắn 02 (hai) đồng hồ đo áp suất có chữ “CRICKET”.

+ 01 (một) khẩu súng bằng kim loại, màu đen, chiều dài 91 cm, trên thân súng có chữ “CRICKET Z – 1000”, có gắn ống giảm thanh có chữ “GEMTECH”, thân có gắn 01 bình hơi nén khí bằng kim loại màu đen và 02 đồng hồ đo áp suất, thân súng có gắn 01 băng đạn bằng kim loại, 01 kính ngắm màu đen, báng súng bằng nhựa màu đen.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “2”, bên trong có: 14 (mười bốn) vật bằng kim loại, màu đen, có bộ phận cò, lò xo, thoi đẩy bằng kim loại màu trắng, trên thân có chữ “FXTranformer”.

- Các cụm chi tiết gồm: 01 (một) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, hình dạng khẩu súng, có chiều dài 91 cm, gồm giảm thanh, nòng súng, thân súng, cò súng, báng súng; 05 (năm) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, có chữ F (được niêm phong trong 01 (một) thùng bìa cát tông ký hiệu “NA1”).

9.3 Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện không có giá trị sử dụng, được sử dụng vào mục đích phạm tội; gồm:

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “1”, bên trong có: 28 (hai mươi tám) vật kim loại hình dạng băng đạn súng hơi khí nén.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “3”, bên trong có: 15 (mười lăm) vật hình dạng nắp van điều áp bằng kim loại, sơn màu đen, phí trong có ren xoắn.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “4”, bên trong có: 35 (ba mươi lăm) vật bằng kim loại, màu đen, trên thân có chữ “Cricket”.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “5”, bên trong có: 04 (bốn) tay cầm bằng nhựa, màu đen được đựng trong túi nilon màu trắng, kèm theo 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong đựng 10 con ốc và 01 (một) vật bằng kim loại màu đen; 09 (chín) vật bằng nhựa hình chữ “A”; 07 (bảy) vật hình dạng ốp lót tay bằng nhựa, màu đen.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “6”, bên trong có: 13 (mười ba) vật kim loại màu đen, trên thân có chữ “Cricket”; 03 (ba) van điều áp gắn đồng hồ, trên thân có chữ “Cricket”; 17 (mười bảy) vật bằng kim loại hình trụ, sơn màu vàng; 05 (năm) vật kim loại hình dạng số “8”, sơn màu đen; 04 (bốn) vật bằng kim loại hình trụ, sơn màu đen trên thân có chữ “XPOWER”; 07 (bảy) vật hình trụ, sơn màu đen có chiều dài 18 cm; 05 (năm) vật hình trụ bằng kim loại, sơn màu đen, trên thân có chữ “GEMTECH”.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “7”, bên trong có: 19 (mười chín) hộp cát tông màu trắng, bên trong mỗi hộp có 02 (hai) vật bằng kim loại, sơn màu đen và thanh kim loại hình chữ “L”; 39 (ba mươi chín) vật hình trụ bằng nhựa, màu đen; 09 (chín) hộp cát tông màu trắng – xanh bên trong đựng bộ đèn lazer.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “8”, bên trong có: 12 (mười hai) ống kính ngắm màu đen, trên thân có chữ “DISCOVERYOPT”.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “9”, bên trong có: 19 (mười chín) túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi có 02 (hai) chiếc lò xo bằng kim loại màu đen; 02 (hai) vật hình trụ bằng kim loại, sơn màu vàng; 01 (một) vật hình trụ màu vàng, một đầu gắn vòng nhựa màu đen; 01 (một) vật hình trụ màu vàng, gắn 01 (một) vật bằng nhựa, màu đen; 01 (một) vật bằng kim loại, một đầu có ren xoắn; 01 (một) vật hình trụ bằng nhựa, màu đen; 01 (một) túi nilon bên trong có 14 (mười bốn) vật hình tròn bằng nhựa, màu đen và 09 (chín) con ốc; 05 (năm) chiếc bình kim loại hình trụ, màu đen.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “10”, bên trong có: 01 (một) máy cắt màu xanh trên thân có chữ MAKITA; 01 (một) chiếc tua vít cán bằng nhựa màu vàng có chữ GOODMAN; 02 (hai) chiếc cà lê bằng kim loại.

- 01 (một) thùng bìa cát tông, ký hiệu “GĐ1”, bên trong đựng:

+ 01 (một) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, có chữ E;

+ 01 (một) vật bằng kim loại màu đen, có gắn cò súng, dài 13 cm;

+ 04 (bốn) vật bằng kim loại màu đen, có chữ “AIRFORCE”;

+ 01 (vật) bằng gỗ màu nâu, dài 65 cm, nghi là báng súng.

+ 01 (một) vật hình trụ bằng kim loại màu đen, hình dạng ống giảm thanh, dài 32 cm, có chữ “Santafe”.

+ 04 (bốn) vật hình trụ bằng kim loại, hình dạng ống giảm thanh, màu đen, dài 20,5 cm, có chữ “GEMTECH”.

+ 01 (một) vật hình trụ bằng kim loại, dạng hình ống giảm thanh, màu đen, dài 14,5 cm, có chữ “Bushnell”.

+ 11 (mười một) chiếc kính ngắm màu đen, hai đầu có nắp chụp màu đen, trên thân có chữ “MARCOOL”.

+ 03 (ba) vật bằng nhựa, hình dạng tay cầm súng, màu đen.

+ 02 (hai) vật bằng gỗ, hình dạng tay cầm súng, màu nâu.

+ 01 (một) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, có gắn đồng hồ đo áp suất, trên thân có chữ “Super well”.

+ 26 (hai mươi sáu) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, nghi là bộ phận lắp vào chân kính ngắm.

+ 24 (hai mươi bốn) đồng hồ đo áp suất.

+ 03 (ba) cụm chi tiết nghi là ruột súng.

+ 04 (bốn) vật bằng kim loại, hình dạng băng đạn súng nén hơi.

+ 06 (sáu) bộ Đ.

+ 05 (năm) thanh kim loại hình trụ rỗng có kích thước khác nhau.

+ 02 (hai) vật hình trụ bằng kim loại màu đen, hình dạng bình khí nén.

+ 46 (bốn mươi sáu) vật bằng kim loại hình trụ, phía trong có ren ốc, nghi là nắp van điều áp.

9.3 Tịch thu sung ngân sách nhà nước các công cụ, phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội, gồm:

- 01 (một) máy bơm hơi trên thân máy chữ N

- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng đồng của Đỗ Văn T1;

- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh đen, lắp ốp lưng bằng nhựa màu nâu của Phạm Ngọc Q.

9.4 Trả lại bị cáo Đỗ Văn T1: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu đen, số Imei: 358733090307459, số Imei 2: 358733090373196, bên trong lắp sim điện thoại số 0335.382.313, không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

9.5 Trả lại bị cáo Đỗ Ngọc A: 01 (một) case máy tính màu đen, trên thân có chữ CENTAUR không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

9.6 Truy thu số tiền do các bị cáo phạm tội mà có. Cụ thể: Truy thu của Đỗ Văn T1 số tiền 1.000.000 đồng; truy thu số tiền 7.000.000 đồng của Đỗ Ngọc A.

. Những vấn đề khác:

Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, Đỗ Văn T1 và Phạm Ngọc Q còn khai nhận nhiều lần bán trái phép súng nhưng không nhớ rõ số lượng, chủng loại, thời gian bán và thông tin người mua; Đỗ Ngọc A khai nhận nhiều lần bán trái phép linh kiện súng nhưng không nhớ rõ số lượng, chủng loại, thời gian bán và thông tin người mua. Ngoài lời khai của các bị cáo, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Quá trình điều tra, Đỗ Văn T1 khai còn mua linh kiện súng (không nhớ cụ thể mua những linh kiện gì) của Lê Mạnh T4, sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là xã N, tỉnh Bắc Ninh). Tiến hành làm việc với Lê Mạnh T4, T4 thừa nhận hành vi mua bán trái phép linh kiện súng (là kính ngắm) với T1 từ khoảng cuối năm 2023. Ngoài lời khai của T1 và T4, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Đối với ông Đỗ Ngọc T2, sinh năm 1968 (là bố đẻ của Ngọc A) khai có biết việc Ngọc A tàng trữ các linh kiện súng tại nhà. Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hành vi của ông T2 không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

Đối với người bán linh kiện súng cho Đỗ Văn T1 và Đỗ Ngọc A, T1 và Ngọc A đều khai nhận không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này nên không có căn cứ xác minh, xử lý.

Đối với người đặt mua súng của Đỗ Văn T1 trong các ngày 07/6/2025 và 08/6/2025, T1 khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh chủ thuê bao 02 số điện thoại 0911.855.841 và 0912.270.010 (Thức xác định là số điện thoại của người mua súng), xác định đều đăng ký tên chị Phạm Thị Ngọc H1, sinh năm 1994, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Y, tỉnh Bắc Ninh). Chị H1 khai không đăng ký, sử dụng các số điện thoại nói trên. Do vậy, không có căn cứ xác minh, xử lý.

. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326 Nghị quyết 326/2016/UBTVH ngày 16/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc các bị cáo Đỗ Văn T1, Đỗ Ngọc A, Phạm Ngọc Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

1.1. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T1: 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/6/2025 đến ngày 20/6/2025.

Phạt bị cáo Đỗ Văn T1 15.000.000 đồng vào ngân sách nhà nước.

1.2. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc A: 01 (một) năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 12/3/2026.

Phạt bị cáo Đỗ Ngọc A 10.000.000 đồng vào ngân sách nhà nước.

Giao bị cáo Đỗ Ngọc A cho UBND xã N, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

1.3. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Q: 01 (một) năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 12/3/2026.

Phạt bị cáo Đỗ Ngọc A 10.000.000 đồng vào ngân sách nhà nước.

Giao bị cáo Phạm Ngọc Q cho UBND xã N, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ Điều 123 Bộ luật tố tụng hình sự, cấm các bị cáo Đỗ Văn T1, Đỗ Ngọc A, Phạm Ngọc Q đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/3/2026 cho đến ngày các bị cáo đi chấp hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

* Giao Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B xử lý theo quy định đối với các vật chứng là vũ khí quân dụng. Gồm:

- 01 (một) bao tải dứa màu trắng được niêm phong ký hiệu “QT Quỳnh 2”, bên trong có: 01 (một) bao tải dứa màu trắng, bên trong có:

+ 01 (một) khẩu súng màu đen, chiều dài 85 cm, phần báng và tay cầm bằng nhựa màu đen, phần thân có chữ “Fxairguns” “Cricket z-1000”, gắn bình hơi khí nén, van gắn đồng hồ có chữ “Cricket”, kính ngắm màu đen có chữ “MARCOOL”, súng có gắn băng đạn bằng kim loại màu xám.

+ 01 (một) ống giảm thanh bằng kim loại, màu đen, chiều dài 17 cm, đường kính 03 cm.

+ 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong có 225 (hai trăm hai mươi năm) viên kim loại hình nấm;

+ 01 (một) hộp nhựa, màu trắng bên trong có 650 (sáu trăm năm mươi) viên kim loại hình nấm.

- 01 (một) bao tải dứa màu trắng được niêm phong ký hiệu “QT Quỳnh 1”, bên trong có: 01 (một) bao tải dứa màu xanh, bên trong có:

+ 01 (một) khẩu súng bằng kim loại màu đen, có chiều dài 60,5 cm, phần tay cầm bằng gỗ màu đen, phần thân có chữ “Airforce”, gắn kính ngắm có chữ “DISCOVERYOPT”.

+ 01 (một) khẩu súng bằng kim loại, màu đen, có chiều dài 59,5 cm, phần tay cầm bằng gỗ, màu đen, trên thân có chữ “Airforce”, gắn kính ngắm có chữ “DISCOVERYOPT”.

+ 02 (hai) ống giảm thanh có đặc điểm tương tự nhau, bằng kim loại, màu đen, trên thân có chữ “AIRFORCE”, có chiều dài 30 cm, đường kính 3,5 cm.

+ 02 (hai) bình kim loại có đặc điểm tương tự nhau, màu xám, có chữ “PADAK” và các chữ nước ngoài, gắn van điều áp có chữ “Cricket”, có 02 đồng hồ đo, chiều dài 37 cm.

+ 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có 588 (năm trăm tám mươi tám) viên kim loại hình nấm.

- 01 (một) bao tơ dứa màu trắng được niêm phong ký hiệu “KX Thức”, bên trong có:

+ 01 (một) khẩu súng bằng kim loại, màu đen có chiều dài 99 cm, phần ốp lót tay bằng gỗ màu đen, gắn kính ngắm màu đen, có nắp chụp màu đen, thân súng có gắn giảm thanh có chữ “AIRFORCE”, thân súng gắn 02 (hai) đồng hồ đo áp suất có chữ “CRICKET”.

+ 01 (một) khẩu súng bằng kim loại, màu đen, chiều dài 91 cm, trên thân súng có chữ “CRICKET Z – 1000”, có gắn ống giảm thanh có chữ “GEMTECH”, thân có gắn 01 bình hơi nén khí bằng kim loại màu đen và 02 đồng hồ đo áp suất, thân súng có gắn 01 băng đạn bằng kim loại, 01 kính ngắm màu đen, báng súng bằng nhựa màu đen.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “2”, bên trong có: 14 (mười bốn) vật bằng kim loại, màu đen, có bộ phận cò, lò xo, thoi đẩy bằng kim loại màu trắng, trên thân có chữ “FXTranformer”.

- Các cụm chi tiết gồm: 01 (một) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, hình dạng khẩu súng, có chiều dài 91 cm, gồm giảm thanh, nòng súng, thân súng, cò súng, báng súng; 05 (năm) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, có chữ F (được niêm phong trong 01 (một) thùng bìa cát tông ký hiệu “NA1”).

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “1”, sau khi mở niêm phong bên trong có: 28 (hai mươi tám) vật kim loại hình dạng băng đạn súng hơi khí nén..

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “3”, sau khi mở niêm phong bên trong có: 15 (mười lăm) vật hình dạng nắp van điều áp bằng kim loại, sơn màu đen, phía trong có ren xoắn.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “4”, sau khi mở niêm phong bên trong có: 35 (ba mươi lăm) vật bằng kim loại, màu đen, trên thân có chữ “Cricket”.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “5”, sau khi mở niêm phong bên trong có: 04 (bốn) tay cầm bằng nhựa, màu đen được đựng trong túi nilon màu trắng, kèm theo túi nilon màu trắng bên trong đựng 10 con ốc và 01 vật kim loại màu đen; 09 (chín) vật bằng nhựa hình chữ “A”; 07 (bảy) vật hình dạng ốp lót tay bằng nhựa, màu đen.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “6”, sau khi mở niêm phong bên trong có: 13 (mười ba) vật kim loại màu đen, trên thân có chữ “Cricket”; 03 (ba) van điều áp gắn đồng hồ, trên thân có chữ “Cricket”; 17 (mười bảy) vật bằng kim loại hình trụ, sơn màu vàng; 05 (năm) vật kim loại hình dạng số “8”, sơn màu đen; 04 (bốn) vật bằng kim loại hình trụ, sơn màu đen trên thân có chữ “XPOWER”; 07 (bảy) vật hình trụ, sơn màu đen có chiều dài 18 cm; 05 (năm) vật hình trụ bằng kim loại, sơn màu đen, trên thân có chữ “GEMTECH”.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “7”, sau khi mở niêm phong bên trong có: 19 (mười chín) hộp cát tông màu trắng, bên trong mỗi hộp có 02 (hai) vật bằng kim loại, sơn màu đen và thanh kim loại hình chữ “L”; 39 (ba mươi chín) vật hình trụ bằng nhựa, màu đen; 09 (chín) hộp cát tông màu trắng – xanh bên trong đựng bộ đèn lazer.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “8”, sau khi mở niêm phong bên trong có: 12 (mười hai) ống kính ngắm màu đen, trên thân có chữ “DISCOVERYOPT”.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “9”, sau khi mở niêm phong bên trong có: 19 (mười chín) túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi có 02 (hai) chiếc lò xo bằng kim loại màu đen; 02 (hai) vật hình trụ bằng kim loại, sơn màu vàng; 01 (một) vật hình trụ màu vàng, một đầu gắn vòng nhựa màu đen; 01 (một) vật hình trụ màu vàng, gắn 01 (một) vật bằng nhựa, màu đen; 01 (một) vật bằng kim loại, một đầu có ren xoắn; 01 (một) vật hình trụ bằng nhựa, màu đen; 01 (một) túi nilon bên trong có 14 (mười bốn) vật hình tròn bằng nhựa, màu đen và 09 (chín) con ốc; 05 (năm) chiếc bình kim loại hình trụ, màu đen.

- 01 (một) hộp bìa cát tông, niêm phong ký hiệu “10”, sau khi mở niêm phong bên trong có: 01 (một) máy cắt màu xanh trên thân có chữ MAKITA; 01 (một) chiếc tua vít cán bằng nhựa màu vàng có chữ GOODMAN; 02 (hai) chiếc cà lê bằng kim loại.

- 01 (một) thùng bìa cát tông, ký hiệu “GÐ 1” sau khi mở niêm phong có các chi tiết đồ vật:

+ 01 (một) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, có chữ E;

+ 01 (một) vật bằng kim loại màu đen, có gắn cò súng, dài 13 cm;

+ 04 (bốn) vật bằng kim loại màu đen, có chữ “AIRFORCE”;

+ 01 (vật) bằng gỗ màu nâu, dài 65 cm, nghi là báng súng.

+ 01 (một) vật hình trụ bằng kim loại màu đen, hình dạng ống giảm thanh, dài 32 cm, có chữ “Santafe”.

+ 04 (bốn) vật hình trụ bằng kim loại, hình dạng ống giảm thanh, màu đen, dài 20,5 cm, có chữ “GEMTECH”.

+ 01 (một) vật hình trụ bằng kim loại, dạng hình ống giảm thanh, màu đen, dài 14,5 cm, có chữ “Bushnell”.

+ 11 (mười một) chiếc kính ngắm màu đen, hai đầu có nắp chụp màu đen, trên thân có chữ “MARCOOL”.

+ 03 (ba) vật bằng nhựa, hình dạng tay cầm súng, màu đen.

+ 02 (hai) vật bằng gỗ, hình dạng tay cầm súng, màu nâu.

+ 01 (một) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, có gắn đồng hồ đo áp suất, trên thân có chữ “Super well”.

+ 26 (hai mươi sáu) cụm chi tiết bằng kim loại màu đen, nghi là bộ phận lắp vào chân kính ngắm.

+ 24 (hai mươi bốn) đồng hồ đo áp suất.

+ 03 (ba) cụm chi tiết nghi là ruột súng.

+ 04 (bốn) vật bằng kim loại, hình dạng băng đạn súng nén hơi.

+ 06 (sáu) bộ Đ (thực tế có 04 bộ chiếu lazer và 02 cụm chi tiết màu đen hình trụ có gắn đồng hồ áp suất)

+ 05 (năm) thanh kim loại hình trụ rỗng có kích thước khác nhau.

+ 02 (hai) vật hình trụ bằng kim loại màu đen, hình dạng bình khí nén.

+ 46 (bốn mươi sáu) vật bằng kim loại hình trụ, phía trong có ren ốc, nghi là nắp van điều áp.

* Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

- 01 (một) máy bơm hơi trên thân máy chữ N

- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng đồng, số Imei: 353102101520762, số Imei 2: 353102101531991, bên trong lắp sim điện thoại số 0985.394.334;

- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh đen, lắp ốp lưng bằng nhựa màu nâu, số Imei: 358891506107622, số Imei 2: 358891506174762; lắp sim số 0915.574.802.

* Trả lại bị cáo Đỗ Văn T1: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu đen, số Imei: 358733090307459, số Imei 2: 358733090373196, bên trong lắp sim điện thoại số 0335.382.313, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

* Trả lại bị cáo Đỗ Ngọc A: 01 (một) case máy tính màu đen, trên thân có chữ CENTAUR, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 22/01/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

* Truy thu của Đỗ Văn T1 số tiền 1.000.000 đồng; truy thu của Đỗ Ngọc A số tiền 7.000.000 đồng.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Đỗ Văn T1, Đỗ Ngọc A, Phạm Ngọc Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

5. Về hƣớng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưõng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ