- Tranh chấp gì? "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2023/HSST Ngày: 19 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Mỹ Kỷ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Di
Ông Nguyễn Trường Sa
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong
Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 38/2023/HSST, ngày 26/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HS, ngày 04/5/2023 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Lê V (tên gọi khác: C); Giới tính: Nam; sinh ngày 20.4.1995, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi thường trú và chổ ở: khu phố 7, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: thợ làm sắt; Cha: Lê T; mẹ: Trương Th; Anh, chị, em ruột: có 01 người, sinh năm 1993; Vợ; con: chưa có
Tiền sự: không;
Tiền án: 01 tiền án. Tại bán án số 05/2017/HSPT ngày 16.01.2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận tuyên phạt Lê V 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Hoạt động nhân thân:
Ngày 06.6.2013 có hành vi Cố ý gây thương tích, bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội: Cố ý gây thương tích. Đến ngày 07.3.2014, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can cùng số 01 ngày 07.3.2014.
Ngày 19.12.2022, bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong ra quyết định khởi tố bị can số 340, lệnh bắt bị can để tạm giam số 52 cùng ngày, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can để tạm giam trong vụ án khác, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tuy Phong và có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Tiết X (tên gọi khác: U), Giới tính: Nữ; sinh ngày 30.10.2000, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi thường trú: thôn Tr, xã Ph, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Chổ ở: khu phố 8, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: không; Cha: Tiết V; mẹ: Hà H; Anh, chị, em ruột: có 04 người, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1995; Chồng; con: chưa có; Tiền án; tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại xã Ph, huyện Tuy Phong và có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại Nguyễn H, sinh năm 1992; Cư trú tại khu phố 05, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.( Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 10.12.2022, Tiết X đi đến tiệm Internet Lê Viên tại khu phố 1, thị trấn L để chơi thì gặp Lê V là bạn của Tiết X. Trong lúc chơi game thì Lê V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên rủ Tiết X đi kiếm nhà nào sơ hở thì trộm cắp tài sản thì Tiết X đồng ý. Tiết X điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86K7-5873 chở Lê V ngồi phía sau đi lòng vòng trên các tuyến đường khu phố 5 đến khu vực sau trạm Rada 69 thuộc thị trấn L thì nhìn thấy trước nhà của Nguyễn H có 01 chiếc xe đạp điện hiệu Tokyo, màu đỏ đang dựng không có người trông coi nên Lê V và Tiết X nảy sinh ý định trộm cắp xe đạp điện của Hoa. Tiết X dừng xe cách vị trí cửa nhà khoảng 5m. Lê V đi vào trong nhà, lén lút mở khóa cổng do cổng không khóa, chỉ treo móc khóa hờ. Lê V tiến lại gần xe đạp điện kiểm tra thì thấy xe không khóa cổ, Lê V lén lút dắt xe đạp điện đi ra vị trí Tiết X đứng đợi. Tiết X nổ máy xe mô tô 86K7-5873 sau đó dùng chân đẩy xe đạp điện do Lê V điều khiển chạy về nhà của Lê V tại khu phố 7, thị trấn L, huyện Tuy Phong để cất giấu, sau đó Tiết X đi về nhà. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày 10.12.2022, sau khi Hoa ngủ dậy thì phát hiện cửa cổng mở, phát hiện bị kẻ gian lấy cắp xe đạp điện nên kiểm tra camera thì thấy có 02 người trộm cắp xe của Hoa. Hoa đến Công an thị trấn L trình báo sự việc. Đến chiều cùng ngày, sau khi mời Lê V và Tiết X làm việc thì Tiết X và Lê V thừa nhận hành vi trộm cắp xe đạp điện của Hoa. Lê V tự nguyện giao nộp 01 xe đạp điện cho Công an thị trấn L.
Tại biên bản và bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐG ngày 04.01.2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện Tuy Phong kết luận: +01 chiếc xe đạp điện hiệu Tokyo 12A plus, màu đỏ có giá 7.000.000 đồng/chiếc x 60% = 4.200.000 đồng.
Giá trị tài sản định giá là: 4.200.000 đồng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 52/QĐ/KSĐT/VKS/HS, ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.
Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lê V từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Tiết X từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Lê V và bị cáo Tiết X xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra – Công an huyện Tuy Phong, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 12 giờ 30 phút ngày 10/12/2022 tại khu phố 05, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, Lê V và Tiết X đã lén lút lấy trộm 01 xe đạp điện hiệu Tokyo 12A plus màu đỏ của Nguyễn H trị giá 4.200.000 đồng nên hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, như lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Các bị cáo là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Nhận biết hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động, nên đã lén lút trộm cắp tài sản của người bị hại. Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm minh.
Trong vụ án này có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng thống nhất ý chí trộm cắp tài sản của bị hại nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm chung về hành vi và hậu quả gây ra.
Bị cáo Lê V có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên hành vi của Lê V thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tuy nhiên trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lê V đã thành khẩn khai báo nên bị cáo Lê V được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo trên cơ sở cân nhắc các tình tiết của vụ án và nhân thân xét thấy rằng cần cách ly bị cáo Lê V ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, đồng thời qua đó nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo Tiết X quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Tiết X có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội.
Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận toàn bộ.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe đạp điện hiệu Tokyo 12A plus màu đỏ, sau khi định giá cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Tuy Phong đã trả lại cho chủ sở hữu đúng quy định, nên không xem xét giải quyết.
Đối với 01 xe mô tô biển số 86K7 – 5873 do bị cáo Tiết X mượn của Tiết V, do Vẽ không biết Tiết X sử sụng để trộm cắp tài sản nên không xem xét, xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Lê V và bị cáo Tiết X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê V 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Tiết X 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án (19/5/2023).
Giao bị cáo cho UBND xã Ph, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách mà bị cáo Tiết X thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách mà bị cáo Tiết X cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt các bị cáo. Báo cho họ biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết công khai.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án ND Tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Tuy Phong; - Công an huyện Tuy Phong; - Bị cáo; bị hại; - Chi cục THADS huyện Tuy Phong; - Lưu Hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lâm Thị Mỹ Kỷ |