- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Công T - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (điề…"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Quách Công T phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 304 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2026/HS-ST Ngày 30-7-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Trương Giang và bà Nguyễn Thị ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2026/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:
Quách Công T, sinh năm 2000, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã V, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: Bon K, xã Q, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Hải D (sinh năm: 1972) và Lê Thị N (sinh năm: 1981); gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; tiền sự: 0; tiến án: 01, Ngày 21/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông (cũ) tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích”; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, án phí HSST, DSST nhưng chưa thi hành phần bồi thường thiệt hại cho người bị hại nên chưa được xóa án tích; nhân thân: Ngày 15/02/2026, Công an xã Quảng Khê ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng) về hành vi: dùng dao gây thương tích cho Vũ Quốc G với tỷ lệ tổn thương cơ thể 01%. Bị cáo đã nộp tiền. Được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Quảng Khê, tỉnh Lâm Đồng, cho đến nay - Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vũ Quốc G, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn Q (nay là bon B), xã Q, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 ngày 04/12/2025, Quách Công T đi nhậu cùng Đặng Văn T1 và một số người bạn. Khi đi, T có mang theo 01 con dao găm giấu trong lưng quần phía trước bụng (dao có chiều dài tổng thể 30,7cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 17,2cm, mũi nhọn, phần cán dao bằng gỗ và kim loại có chiều dài là 12,2cm; dao có túi đựng T mua trên mạng xã hội vào khoảng tháng 12/2025). Sau đó, Thái, T1 và T2 (bạn của Thắng) đến quán Kareoke T tại Bon S, xã Q, tỉnh Lâm Đồng để hát.
Khi vào quán “Karaoke T”, T và T1 không thấy T2 trong quán nên T điều khiển xe mô tô chở T ra phía sau để về. Đến khu vực khuôn viên sân trước quầy lễ tân của quán thì gặp 3 thanh niên gồm: Vũ Quốc G, Lộc Chạc Đ và Tô Hoàng Gia T3 cùng trú tại thôn Q, xã Q, tỉnh Lâm Đồng đang đứng chắn giữa lối đi nên T nói “né ra” thì T nghe có ai đó chửi T và T1. T1 điều khiển xe mô tô ra phía trước cổng quán, dừng xe lại bên lề đường Quốc lộ 28 chờ, còn T nghe chửi nên bực tức quay đầu nhìn về phía G, Đ, T3 nói “Bọn mày nói gì” rồi xuống xe. G, Đ, T3 đi bộ ra phía T và liên tục chửi bới nhưng T không nghe rõ nội dung. Thấy bị chửi nên T bực tức đi bộ về hướng của G, Đ và T3. Khi T tới gần thì bị G lao vào đạp trúng ngang hông làm T bị té xuống đất. T liền đứng dậy, dùng tay phải rút dao găm từ trong thắt lưng quần phía trước bụng ra, cầm dao bằng tay phải, hướng lưỡi dao và mũi dao về phía G, Đ và T3 rồi T đâm, chém nhiều nhát trúng cổ tay phải G gây thương tích. Sau đó, G, Đ và T3 chạy vào quầy lễ tân. G nhặt viên gạch vỡ trước sân ném trúng bắp tay phải T, T tiếp tục cầm dao đuổi theo chém G nhưng được mọi người xung quanh can ngăn kéo T ra xe mô tô chở về nhà. Sau đó Công an xã Quảng Khê, tỉnh Lâm Đồng tiếp nhận thông tin mời T làm việc và yêu cầu giao nộp con dao đã dùng để chém anh G.
* Các Kết luận giám định:
+ Ngày 12/12/2025, Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng ra Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 104C/KLTTCT-TTPY, kết luận thương tích của Vũ Quốc G như sau: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Quốc G tại thời điểm giám định là: 01% (một phần trăm); Cơ chế hình thành vết thương do vật sắc tác động gây nên.
+ Ngày 18/12/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng ra bản Kết luận giám định số: 1555/KL-KTHS, kết luận:
Dao gửi giám định là loại dao găm thuộc phụ lục 3, danh mục vũ khí thô sơ ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA, ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Bộ Công an.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 19/6/2024 quy định: Vũ khí quân dụng bao gồm: Súng săn, vũ khí quy định tại điểm a khoản 4 … sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật;
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) con dao có chiều dài tổng thể là 30,7cm, lưỡi dao bằng kim loại, mũi nhọn, bề mặt sáng bóng, trên bề mặt có dòng ký tự “Columbia”, “SA78”, chiều dài lưỡi dao là 17,2cm, phần lưỡi dao rộng nhất là 4cm, sống dao dày nhất là 4mm, phần cán dao bằng gỗ và kim loại có chiều dài là 12,2cm.
- 01 (một) bao vải cứng màu đen có chiều dài tổng thể là 32cm, phần bao vải tương ứng phần bọc lưỡi dao khép kín hẹp dần về mũi, có chiều dài 20cm, rộng nhất 6,8cm, phần bao vải tương ứng vị trí phần tay cầm có vòng dây khóa dạng cúc bấm.
* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 26/01/2026, Quách Công T đã tiến hành thỏa thuận đền bù đối với Vũ Quốc G. Nhưng do G chỉ bị thương tích nhẹ nên không yêu cầu bồi thường gì từ Quách Công T.
Đối với hành vi sử dụng dao gây thương tích với tỷ lệ 01% (một phần trăm) cho anh Vũ Quốc G: Ngày 26/12/2025, Vũ Quốc G đã có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với hành vi của Quách Công T do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Cáo trạng số: 109A/CT-VKS-P1 ngày 30/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Quách Công T về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Quách Công T phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm - 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu để tiêu hủy: 01 con dao và 01 bao vải như đặc điểm theo biên bản thu giữ vật chứng;
Bị cáo không có ý kiến gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các chứng cứ khác đã thu thập lưu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 04/12/2025, tại quán Karaoke T thuộc Bon S, xã Q, tỉnh Lâm Đồng, xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân, Quách Công T đã có hành vi sử dụng 01 con dao có kích thước 30,7cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 17,2cm chém anh Vũ Quốc G gây thương tích 01% thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 19/6/2024 là vũ khí quân dụng; Hành vi của Quách Công T, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Điều 304 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.
...”.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo T có 01 tiền án chưa được xóa án tích tiếp tục phạm tội mới thuộc trường hợp “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý và sử dụng vũ khí quân dụng của Nhà nước mà còn tác động xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn chung tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử lý hình sự về hành vi cố ý gây thương tích nhưng không lấy đó là bài học để sửa đổi, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục có hành vi phạm tội khác nên cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh đối với các bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với đề nghị của Viện kiểm sát là có phần nghiêm khắc, xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 26/01/2026, bị cáo đã tiến hành thỏa thuận đền bù đối với anh Vũ Quốc G. Do anh G chỉ bị thương tích nhẹ nên không yêu cầu bồi thường gì khác nên HĐXX không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 dao kim loại là công cụ sử dụng vào việc phạm tội và 01 bao vải cứng màu đen là vật không có giá trị nên tịch thu cho tiêu hủy.
. Trong vụ án này còn có một số vấn đề sau: Đối với hành vi sử dụng dao gây thương tích với tỷ lệ 01% (một phần trăm) cho anh Vũ Quốc G: Ngày 26/12/2025, Vũ Quốc G đã có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với hành vi của Quách Công T do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
Bị cáo Quách Công T phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”
Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Quách Công T 01 (một) năm 09 (chín) tháng, thời hạn tính từ ngày đi chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 dao, 01 bao vải cứng màu đen (Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần Bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND khu vực 6 – Lâm Đồng; - Phòng PV06, PC10 Công an tỉnh Lâm Đồng; - Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Lâm Đồng; - Trại tạm giam số 02 – Công an tỉnh Lâm Đồng; - Phòng THADS khu vực 6 - Lâm Đồng; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Bùi Thị Ngọc |