- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Thị N - Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Thị N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 49/2026/HS-ST Ngày 23-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Công Nghiệp và bà Hoàng Thị Trang
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Đần, Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND khu vực 5 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Khôi, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Trong ngày 23 tháng 4 năm 2026, tại Nhà Văn hóa bản Nộc Cốc 1, xã Nà Bủng, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân khu vực 5 - Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
Lý Thị N, sinh năm 1969, tại tỉnh Điện Biên.
Tên gọi khác: Không có tên gọi khác.
Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã N, tỉnh Điện Biên.
Số CCCD: 011169001837; cấp ngày 08/7/2022; nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH – Bộ Công an
Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không biết chữ.
Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Lý Sáy C, đã chết; Con bà: Giàng Thị S, đã chết.
Bị cáo có chồng Mùa A T, đã chết. Bị cáo có 3 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2019.
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 17/01/2026, bị cáo bị Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện Biên xử phạt hành chính hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Nhân thân: Ngày 18/9/2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành hình phạt đến cuối năm 2016 ra trại trở về địa phương sinh sống. Bản án này bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính và các quyết định khác của bản án. Do vậy đến ngày bị cáo phạm tội mới đã đương nhiên được xóa án tích. Ngày 17/01/2026, bị cáo bị Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện Biên xử phạt hành chính hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17/12/2025, tạm giam từ ngày 26/12/2025 đến ngày xét xử, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Lý Thị N: Bà Giàng Thị Nhung, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 16/12/2025, Lý Thị N đi bộ từ nhà lên khu vực biên giới Việt Nam – Lào thuộc địa phận bản P, xã N, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, bị cáo gặp, trao đổi và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi bị cáo không rõ lai lịch được một gói Heroine và một gói chứa các viên ma túy tổng hợp với giá 200.000 đồng. Mua được ma túy, bị cáo cất vào túi áo bên phải đang mặc và đi bộ về nhà. Về đến nhà bị cáo cất giấu hai gói ma túy dưới gối trên đầu giường ngủ của bị cáo. Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 17/12/2025, khi bị cáo đang cầm gói ma túy trên tay trái thì bị tổ công tác Công an xã N yêu cầu kiểm tra. Sau khi được giải thích, bị cáo đã tự giác giao nộp 01 gói chứa các viên Methamphetamine có khối lượng 8,3 gam và 06 gói Heroine có khối lượng 0,88 gam.
Cáo trạng số 02/CT-VKS-KV5 ngày 07/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên truy tố bị cáo Lý Thị N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm n khoản 2 Điều 249 sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Tuyên phạt bị cáo Lý Thị N từ 05 năm 09 tháng đến 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng của vụ án.
Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp trong mức đề nghị của Kiểm sát viên. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên và Luận cứ bào chữa của Trợ giúp viên thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ phạm tội:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 08 giờ 15 phút ngày 17/12/2025 bút lục 01, 02 chứng minh bị cáo Lý Thị N bị bắt khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác Công an xã Nà Bủng đã thu giữ của bị cáo 01 gói nilon màu hồng, miệng gói được buộc thắt nút, mở bên trong có chứa bên trong chứa các viên nén màu hồng nghi là ma túy. Một gói nilon màu hồng, miệng gói được buộc thắt nút, mở bên trong có 06 gói nilon màu hồng, miệng gói được hàn kín, mở bên trong các gói đều chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng, đồ vật, tài liệu hồi 15 giờ 30 phút ngày 17/12/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 47 thì khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Lý Thị N là 8,3 gam các viên nén màu hồng và 0,88 gam chất bột màu trắng.
Kết luận giám định số 1223/KL-KTHS ngày 24/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 51 đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Lý Thị N ký hiệu M1 có khối lượng 8,3 gam là chất ma túy loại Methamphetamine. Ký hiệu M2 có khối lượng 0,88 gam là chất ma túy, loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo Lý Thị N có tội. Bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Chứng cứ xác định bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Hành vi của bị cáo được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Lý Thị N có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Về tính chất mức độ phạm tội:
Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Lý Thị N là 9,18 gam. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ở trong khoảng từ 05 gam đến dưới 30 gam. Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo rất nghiêm trọng và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù.
Về nhân thân của bị cáo:
Bị cáo Lý Thị N là người dân tộc Mông, cư trú tại xã N, tỉnh Điện Biên. Bị cáo là người sử dụng ma túy nhiều năm và chưa từ bỏ được. Đây là nguyên nhân chính bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
Ngày 18/9/2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành hình phạt đến cuối năm 2016 ra trại trở về địa phương sinh sống. Bản án này bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính và các quyết định khác của bản án. Do vậy đến ngày bị cáo phạm tội mới đã đương nhiên được xóa án tích. Ngày 17/01/2026, bị cáo bị Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện Biên xử phạt hành chính hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân xấu của bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối chiếu các quy định tại khoản 1 của Điều 52 Bộ luật hình sự thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Nhận định trên đây là cơ sở để chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên và ý kiến của người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp trong mức đề nghị của Kiểm sát viên. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào nhân thân của bị cáo, khối lượng ma túy, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt phù hợp đối với bị cáo.
Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cai nghiện ma túy đồng thời cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, tài sản trong gia đình không có gì giá trị, bị cáo không giữ chức vụ gì trong xã hội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Lý Thị N.
Về vật chứng: Vật chứng là 9,18 gam Heroine và Methamphetamine, gửi toàn bộ đi giám định và hoàn lại 8,24 gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 08 mảnh nilon màu hồng không có giá trị sử dụng. Các vật chứng này cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ và có đơn xin miễn án phí. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo theo quy định tại Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các vấn đề khác: Nguồn gốc ma túy bị thu giữ bị cáo khai nhận mua một người đàn ông dân tộc Mông bị cáo không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên không đủ cơ sở để xác minh làm rõ đối tượng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Thị N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý Thị N 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 17/12/2025.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy vật chứng sau giám định:
- 0,74 gam Heroine và 7,5 gam Methamphetamine được đựng trong 01 phong bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.
- 08 mảnh nilon màu hồng được đựng trong 01 phong bì niêm phong của Công an xã Nà Hỳ
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng hồi 10 giờ 20 phút ngày 20/4/2026 giữa Công an tỉnh Điện Biên và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Điện Biên).
4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo Lý Thị N.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Lý Thị N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 23/4/2026.
| Nơi nhận: - Phòng GD,TT,KT&THA TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Phòng HSNV-LLTP Công an tỉnh Điện Biên; - VKSND khu vực 5 - Điện Biên; - Phân trại tạm giam Nà Hỳ; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên; - THADS tỉnh Điện Biên; - Bị cáo, người bào chữa; - Công an xã N, tỉnh Điện Biên ; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM Hà Công Nghiệp | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Mạnh Huấn THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HỘI THẨM Nguyễn Mạnh Huấn Vàng Văn Toàn |