- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh T - tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T 07 (B) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2026/HS - ST Ngày: 25/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảy và bà Phan Thị Hòe.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4-Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Giang - Kiểm sát viên. Trong ngày 25 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2026/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2026; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2026/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Mạnh T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/4/1986; tại xã Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Khối Đ, phường T, tỉnh Nghệ An; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Số CCD: 040086037174; Họ và tên cha: Nguyễn Quang T1, Sinh năm 1948; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị Ư, đã chết; Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1984; Con: Có 02 người, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/12/2025 đến ngày 31/12/2025 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vũ Thị H, Trợ giúp viên pháp lý -Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N - Chi nhánh S, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng pháo nổ vào dịp Tết Nguyên đán năm 2026, nên khoảng tháng 03/2025, T dùng điện thoại di động của mình vào trang mạng xã hội T2 thì thấy một tài khoản đăng bài bán pháo nổ (Tưởng không nhớ rõ tên tài khoản) nên đã trao đổi, đặt mua 01 (một) giàn pháo nổ loại 49 quả; 03 (ba) khối pháo tự chế hình trụ tròn kích thước loại lớn; 07 (bảy) khối pháo tự chế hình trụ tròn kích thước loại trung bình; 02 (hai) tràng pháo nổ với tổng số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng), T cung cấp địa chỉ nhận là nhà ở của T (thuộc khối Đ, phường T, tỉnh Nghệ An). Khoảng 05 (năm) ngày sau, khi T đang ở nhà thì có nhân viên giao hàng đến giao cho T một hộp giấy cát-tông, Tưởng biết đó là số pháo nổ mình đặt mua trên mạng xã hội Tiktok nên thanh toán số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho nhân viên giao hàng rồi bê thùng cát-tông vào nhà và mở ra kiểm tra thì thấy đúng số lượng pháo nổ đã đặt mua. Sau đó, T gói tất cả số pháo nổ trên lại, cho vào một thùng xốp màu vàng, đậy nắp lại, dán kín các mép rồi mang cất giấu trong tủ quần áo trong phòng ngủ của T chờ đến tết Nguyên đán để sử dụng.
Qua công tác nắm tình hình, Công an phường T phát hiện Nguyễn Mạnh T có dấu hiệu phạm tội tàng trữ hàng cấm nên ngày 25/12/2025 đã mời Tưởng đến trụ sở để làm việc thì Nguyễn Mạnh T nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết không thể trốn tránh được nên đã xin đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời tự nguyện giao nộp toàn bộ số pháo trên.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N thành lập Hội đồng tiến hành mở niêm phong, cân, xác định khối lượng:
- 01 (một) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (17,5x17,5x10)cm, được tạo bởi 49 hình trụ tròn, xung quanh được dán giấy nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài có khối lượng là 1,85 kg (Một phẩy tám lăm ki-lô-gam).
- 01 (một) dây kích thước (47x13)cm, được kết nối với nhau bằng 26 (hai mươi sáu) khối hình trụ tròn, màu đỏ, kích thước khác nhau tạo thành tràng có tổng khối lượng 0,75 kg (Không phẩy bảy mươi lăm ki-lô-gam).
- 01 (một) dây kích thước (50x15)cm, được kết nối với nhau bằng 37 (ba mươi bảy) khối hình trụ tròn, màu trắng, kích thước khác nhau tạo thành tràng có khối lượng 0,64 kg (Không phẩy sáu mươi tư ki-lô-gam).
10 (mười) khối hình trụ tròn, nhiều kích thước khác nhau, bên ngoài bọc giấy màu trắng, cố định mép dán băng keo màu đen, một đầu có dây dẫn màu trắng bạc có tổng khối lượng là 3,07 kg (ba phẩy không bảy kilogam).
Tổng khối lượng pháo thu giữ của Nguyễn Mạnh T là 6,31kg (Sáu phẩy ba mươi mốt ki-lô-gam), Hội đồng đã lấy 01 (một) khối hình hộp chữ nhật kích thước (17,5x17,5x10)cm, được tạo bởi 49 hình trụ tròn, có khối lượng là 1,85 kg (Một phẩy tám lăm ki-lô-gam) (ký hiệu M1); 01 (một) dây kích thước (47x13)cm, được kết nối với nhau bằng 26 (hai mươi sáu) khối hình trụ tròn, màu đỏ, kích thước khác nhau có tổng khối lượng 0,75 kg (Không phẩy bảy mươi lăm ki-lô-gam) (ký hiệu M2); 01 (một) dây kích thước (50x15)cm, được kết nối với nhau bằng 37 (ba mươi bảy) khối hình trụ tròn, màu trắng, kích thước khác nhau có khối lượng 0,64 kg (Không phẩy sáu mươi tư ki-lô-gam) (ký hiệu M3); 03 (ba) khối hình trụ tròn, kích thước khác nhau, bên ngoài bọc giấy màu trắng, một đầu có dây dẫn màu trắng bạc có khối lượng 1,24kg (ký hiệu M4) gửi Phòng K Công an tỉnh N để thực hiện công tác giám định.
Tại Kết luận giám định số 63/KL-KTHS (Đ2-CN) ngày 31/12/2025 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Các mẫu vật (ký hiệu từ M1 đến M) gửi tới giám định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ”.
Cáo trạng số 02/CT-VKSKV4, ngày 25 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c, khoản 1, Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 4 - Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 191, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T từ 06-09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12-18 tháng. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 07 hộp pháo nổ hình trụ tròn, có kích thước khác nhau tổng khối lượng 1,83kg (Một phẩy tám mươi ba ki lô gam), hiện đang được bảo quản tại Kho K70 thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh N để chờ xử lý theo quy định có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Kho K70 thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh N ngày 12/01/2026.
Đối với tài khoản bán pháo cho T, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để tiến hành điều tra và xử lý theo quy định.
Đối với chiếc điện thoại di động Nguyễn Mạnh T sử dụng vào trang mạng Tiktok để thực hiện hành vi mua pháo về để tàng trữ, tuy nhiên T đã làm mất điện thoại nên Cơ quan Công an không thu giữ được điện thoại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.
Đối chiếu lời khai của bị cáo và các tài liệu có tại hồ sơ, xét thấy phù hợp về thời gian, địa điểm mà bị cáo thực hiện hành vi có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 10 giờ 15 phút ngày 25/12/2025, Nguyễn Mạnh T đã đến cơ quan Công an phường T, tỉnh Nghệ An xin đầu thú về hành vi tàng trữ trái phép 6,31kg (Sáu phẩy ba mươi mốt ki lô gam) pháo nổ với mục đích để sử dụng tại nhà riêng của mình thuộc khối Đ, phường T, tỉnh Nghệ An, đồng thời đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số tang vật là pháo nổ.
Quá trình phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và điều khiển hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật nhưng do coi thường pháp luật vẫn thực hiện tội phạm.
Hành vi của bị cáo thực hiện nêu trên có đủ căn cứ kết luận Nguyễn Mạnh T phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội bị cáo là liều lĩnh, coi thường pháp luật, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng hóa bị cấm. Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội cũng như tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để phòng chống tội phạm nói chung và các tội phạm về hàng cấm nói riêng, đặc biệt là pháo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo sau khi nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đã đến cơ quan Công an đầu thú. Xét thấy bị cáo phạm tội không có động cơ vụ lợi chỉ mua pháo về để sử dụng. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 07 hộp pháo nổ hình trụ tròn, có kích thước khác nhau tổng khối lượng 1,83kg (Một phẩy tám mươi ba ki lô gam), hiện đang được bảo quản tại Kho K70 thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh N để chờ xử lý theo quy định có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Kho K70 thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh N ngày 12/01/2026.
Đối với tài khoản bán pháo cho T, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để tiến hành điều tra và xử lý theo quy định.
Đối với chiếc điện thoại di động Nguyễn Mạnh T sử dụng vào trang mạng Tiktok để thực hiện hành vi mua pháo về để tàng trữ, tuy nhiên T đã làm mất điện thoại nên Cơ quan Công an không thu giữ được điện thoại.
Về án phí: Bị cáo là hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 191, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T 07 (B) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án. Về tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Giao bị cáo Nguyễn Mạnh T cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 07 hộp pháo nổ hình trụ tròn, có kích thước khác nhau tổng khối lượng 1,83kg (Một phẩy tám mươi ba ki lô gam), hiện đang được bảo quản tại Kho K70 thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh N để chờ xử lý theo quy định có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Kho K70 thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh N ngày 12/01/2026.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T3; Bị cáo Nguyễn Mạnh T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: [ơ - VKSND khu vực 4-Nghệ An; - Bị cáo; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - THADS tỉnh Nghệ An; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nghệ An; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Duy Tuấn |