- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Lê Như Q - Trần Quang Việt M"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Lê Như Q
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 49/2026/HNGĐ-ST Ngày: 29-4-2026 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đình Hải
2. Ông Nguyễn Thế Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Công Chức - là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân Khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2026 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 448/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2025, về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 24/2026/QĐST-HNGĐ ngày 10/4/2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Lê Như Q, sinh năm: 1993 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 9 ấp 12, xã Xuân Đông, tỉnh Đồng Nai
Bị đơn: Ông Trần Quang Việt M, sinh năm: 1992 (vắng mặt không lý do)
Địa chỉ: Tổ 4, ấp Bàu Phượng, xã Châu Pha, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 24 tháng 10 năm 2025 và trong quá giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Lê Như Q trình bày:
Bà và ông Trần Quang Việt M bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2019, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu đến với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Châu Pha, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là xã Châu Pha, Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 19/8/2020. Thời gian đầu chung sống thì bà và ông M chung sống hạnh phúc, không có gì xảy ra. Nhưng đến năm 2024 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là ông M hay chơi cờ bạc, không phụ giúp gia đình, bà và ông M thường xuyên cãi vã bất đồng quan điêm, không có tiếng nói chung. Bà và ông M đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2025 cho đến nay. Từ khi sống ly thân thì bà và ông M không còn quan tâm đến nhau, việc ai người đó làm. Nay xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông M để bà ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà và ông M chung sống có một con chung là trẻ Trần Ngọc Minh K, sinh ngày 19/9/2020. Hiện tại trẻ Khuê đang ở cùng với bà. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Khuê, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Do bà đã trình bày lời khai và bận công việc gia đình nên bà đề nghị Toà án xét xử vắng mặt bà, bà cam kết không thắc mắc, khiếu nại gì về việc vắng mặt của mình.
Bị đơn ông Trần Quang Việt M vắng mặt không lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến như sau:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án cụ thể như sau:
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Lê Như Q được ly hôn với ông Trần Quang Việt M.
Về con chung: Giao trẻ Trần Ngọc Minh K, sinh ngày 19/9/2020 cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ nuôi con chung đối với ông M.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Q chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Phạm Lê Như Q khởi kiện yêu cầu được ly hôn và tranh chấp về nuôi con với ông Trần Quang Việt M. Đây là ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Ông Trần Quang Việt M có hộ khẩu thường trú tại tổ 4 ấp Bàu Phượng, xã Châu Pha, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm đ khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025), khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Phạm Lê Như Q có đơn xin xét xử vắng mặt; Toà án đã niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà cho bị đơn ông Trần Quang Việt M nhưng ông M vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà Q, ông M là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Tòa án đã niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nêu rõ yêu cầu của bà Q cho ông M nhưng ông M không đến Tòa trình bày ý kiến, tham dự các buổi hòa giải, xét xử theo quy định mà vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) để giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Lê Như Q và ông Trần Quang Việt M sống chung có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Châu Pha, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là xã Châu Pha, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông M là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Phạm Lê Như Q xác định bà và ông Trần Quang Việt M mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, bà yêu cầu được ly hôn với ông M để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong vụ án này, bà Q khai bà và ông M phát sinh mâu thuẫn do ông M hay chơi cờ bạc, không phụ giúp gia đình, bà và ông M thường xuyên cãi vã bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Bà và ông M đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2025 cho đến nay. Từ khi sống ly thân thì bà và ông M không còn quan tâm đến nhau, việc ai người đó làm. Quá trình giải quyết vụ án, ông M không đến Toà án tham gia tố tụng để Toà án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ giữa bà Q và ông M không còn tình cảm và đều không có thiện chí để đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được thì cuộc sống chung cũng không còn ý nghĩa. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Q đối với ông M.
Về con chung: Bà Q xác nhận bà và ông M có 01 con chung là trẻ Trần Ngọc Minh K, sinh ngày 19/9/2024. Hiện tại Khuê đang sống cùng với bà Q. Sau khi ly hôn, bà Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Khuê. Tòa án đã niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho ông M nhưng ông M vẫn không đến Tòa để thể hiện ý kiến của ông về vấn đề con chung mà vắng mặt không lý do.
Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “2. Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con”.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, nhằm bảo đảm quyền lợi về mọi mặt, tránh việc xáo trộn trong sinh hoạt hiện tại của trẻ Khuê, Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Khuê cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Q không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi trẻ Khuê, đây là sự tự nguyện của bà Q và không trái luật nên Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông M.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q xác nhận bà và ông M không có tài sản chung và nợ chung. Ông M vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa ông và bà Q nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa bà Q với ông M trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
Về án phí: Bà Phạm Lê Như Q chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 4 Điều 147, điểm đ khoản 4 Điều 189, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025);
Căn cứ Khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Lê Như Q
Cho bà Phạm Lê Như Q được ly hôn với ông Trần Quang Việt M
Giấy chứng nhận kết hôn số 83 do Ủy ban nhân dân xã Châu Pha, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là xã Châu Pha, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày 19/8/2020 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Giao 01 con chung là trẻ Trần Ngọc Minh K, sinh ngày 19/9/2020 cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông M.
Ông M có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
4. Về án phí: Bà Phạm Lê Như Q chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà Q đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0045335 ngày 03/12/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Q đã nộp đủ án phí.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6.
Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Lê Như Q, ông Trần Quang Việt M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TPHCM; - VKSND TPHCM; - VKSND KV 12 - TPHCM; - Thi hành án dân sự TPHCM; - Ủy ban nhân dân xã Châu Pha, TP.HCM; - Lưu VP, hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy |