vanban.org

Bản án 49/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Ngọc Minh N đối với ông Liêu Thanh P về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc ông Liêu Thanh P có nghĩa vụ thanh toán cho ông Bùi Ngọc Minh N số tiền vay nợ còn lại là 115.000.000 đồng (Một trăm mười lăm triệu đồng). Ghi nhận sự tự nguyện của ông Bùi Ngọc Minh N không yêu cầu ông Liêu Thanh P trả lãi chậm trả. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Ngọc Minh N đối với ông Liêu Thanh P về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 49/2026/DS-ST
Ngày: 30/01/2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thu Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ

2. Bà Vương Thị Hồng Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vương Triều, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 815/2025/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 460/2025/QĐXXST-DS ngày 30/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 63/2026/QĐST-DS ngày 15/01/2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Bùi Ngọc Minh N, sinh năm 1989; địa chỉ thường trú: Số G, đường P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Bùi Hồng N1, sinh năm 1987; địa chỉ: Số B, Tổ C, Khu phố T, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh (Là người đại diện theo ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 17/9/2025). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Liêu Thanh P, sinh năm 1973; địa chỉ thường trú: Số A, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là ông Bùi Ngọc Minh N và người đại diện theo ủy quyền của của nguyên đơn là ông Bùi Hồng N1 thống nhất trình bày:

Ngày 04/5/2023, ông Bùi Ngọc Minh N và ông Liêu Thanh P có thỏa thuận bằng miệng về việc ông N cho ông P vay số tiền 115.000.000 đồng, theo đó ông N đã tiến hành chuyển khoản số tiền trên cho ông P ngay tại thời điểm cho vay. Thời hạn trả tiền là sau 3 đến 5 ngày tính từ thời điểm ngày 04/5/2023, việc cho vay không có lãi suất. Tuy nhiên, đến hạn trả tiền theo cam kết, nhưng ông P đã không hoàn trả lại cho ông N số tiền mà ông P đã vay, mặc dù, ông N đã nhiều lần gọi điện yêu cầu ông P trả tiền vay nhưng ông P liên tục hẹn lần hẹn lượt, cố tình tránh né nghĩa vụ trả nợ, việc này ảnh hưởng nghiêm trọng đến cân đối tài chính trong cuộc sống của ông N. Do đó, nay ông N có đơn khởi kiện ông P, yêu cầu ông P có nghĩa vụ thanh toán khoản vay cho ông Bùi Ngọc Minh N số tiền là 115.000.000 đồng; tiền lãi chậm trả tạm tính từ ngày 10/5/2023 đến 10/01/2026 với lãi suất chậm trả là 0.83%/tháng là 30.544.000 đồng.

Ngày 11/12/2025, ông Bùi Ngọc Minh N có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với tiền lãi 30.544.000 đồng, theo đó ông N không yêu cầu ông P thanh toán tiền lãi đối với khoản vay 115.000.000 đồng.

Đối với bị đơn ông Liêu Thanh P: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng cho ông P biết để ông P đến Toà án làm việc, hoà giải, xét xử về các vấn đề có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông P không đến Toà án và cũng không có ý kiến gửi Toà án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Toà án thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông đã được thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Quá trình vay tiền, ông P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến nguyên đơn và ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Nguyên đơn ông Bùi Ngọc Minh N khởi kiện bị đơn ông Liêu Thanh P về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Theo kết quả xác minh của Công an phường T thì ông P có địa chỉ thường trú tại A, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc vắng mặt của các đương sự: Người đại diện của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Liêu Thanh P đã được thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227, các Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử tất cả vắng mặt các đương sự trên.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để triệu tập bị đơn tham gia hoà giải, xét xử để giải quyết vụ án nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do; không cung cấp bất cứ tài liệu chứng cứ; không cung cấp văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, bị đơn ông Liêu Thanh P phải chịu hậu quả của việc không cung cấp chứng cứ theo quy định tại Điều 91, 96 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập được.

Về nội dung vụ án:

Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ông Bùi Ngọc Minh N và ông Liêu Thanh P có mối quan hệ quen biết ngoài xã hội. Do tin tưởng ông P nên ngày 04/5/2023, ông N có cho ông P vay số tiền 115.000.000 đồng, bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 65010002030029 của Ngân hàng TMCP Đ, chủ tài khoản Liêu Thanh P. Việc cho vay không có làm giấy tờ vay mượn, không có lãi suất và không có ghi thời hạn trả nợ. Tuy nhiên, các bên có thoả thuận qua tin nhắn zalo thì thời hạn trả nợ vào ngày 10/5/2023, nhưng cho đến nay thì ông P vẫn không trả tiền vay cho ông N, mặc dù ông N đã có văn bản thông báo yêu cầu ông P trả nợ. Đối chiếu quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ông P vi phạm nghĩa vụ trả nợ, dẫn đến quyền lợi của ông N bị ảnh hưởng. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông N là có căn cứ.

Về lãi suất: ông N không yêu cầu ông P trả lãi nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông N.

Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Lệ phí đăng báo: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 91, 96, 147, 180, 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều: 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Ngọc Minh N đối với ông Liêu Thanh P về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc ông Liêu Thanh P có nghĩa vụ thanh toán cho ông Bùi Ngọc Minh N số tiền vay nợ còn lại là 115.000.000 đồng (Một trăm mười lăm triệu đồng). Ghi nhận sự tự nguyện của ông Bùi Ngọc Minh N không yêu cầu ông Liêu Thanh P trả lãi chậm trả.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: ông Liêu Thanh P phải chịu số tiền 5.750.000 đồng (Năm triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Ông Bùi Ngọc Minh N không phải chịu án phí. Thi hành án dân sự Thành phố H hoàn trả lại cho ông Bùi Ngọc Minh N số tiền 3.638.600 đồng (Ba triệu, sáu trăm ba mươi tám nghìn, sáu trăm đồng) đã nộp tạm ứng án phí Theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0034162 ngày 03/11/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Lệ phí đăng báo: Ông Bùi Ngọc Minh N phải chịu số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp, đã thực hiện xong.

4. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ