vanban.org

Bản án 49/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S.

1 Giấy bán xe ngày 26/01/2024 giữa bà Võ Thị Thu T và Công ty Cổ phần S vô hiệu. 2 Hợp đồng mua bán xe ngày 26/01/2024 giữa Công ty Cổ phần S và bà Võ Thị Thu T vô hiệu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "Công ty Cổ phần S - Võ Thị Thu T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 124 Bộ luật Dân sự; Điều 131 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - ĐỒNG THÁP
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2026/DS-ST
Ngày: 14-4-2026
“V/v tranh chấp về dân sự -
Hợp đồng vay tài sản, hợp đồng mua
bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - ĐỒNG THÁP, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Ong Thị Ngọc Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Hùng

2. Ông Huỳnh Ngọc Trước

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lệ Huyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 14 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 277/2026/TLST-DS ngày 23 tháng 01 năm 2026, về việc “Tranh chấp về dân sự - Hợp đồng vay tài sản, hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2026/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 145/2026/QĐST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2026, giữa:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S (gọi tắt là S); Địa chỉ trụ sở chính: Số 128 Nguyễn D, phường T, tỉnh N. Người đại diện theo pháp luật: Ông K -Chức vụ: Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồ Minh N – là đại diện theo ủy quyền của Giám đốc Công ty cổ phần S tham gia hoạt động tố tụng; Địa chỉ: Số 300, đường B, phường C, tỉnh Đ. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Võ Thị Thu T, sinh năm 1969. (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 56, khóm 4, phường H, thành phố C, tỉnh Đp (nay là phường C, tỉnh Đ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty Cổ phần S và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 26/01/2024 bà Võ Thị Thu Tg và Chi nhánh C2 - Công ty TNHH S có ký hợp đồng mua bán tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm trên hệ thống đăng ký trực tuyến của Cục đăng ký quốc gia: Giaodichbaodam/botuphap: theo web:https://dktructuyen.moj.gov.vn/. Cụ thể: Tài sản mua bán 01 xe mô tô hai bánh BKS 66P2-361.72, loại xe: SH Mode màu Xám đen, số khung: RLHJK0118NZ711096- số máy JK01E0309393. Giá bán là 40.063.870 đồng, thời hạn là 12 tháng (từ ngày 26/01/2024 - 26/01/2025), số tiền thanh toán mỗi tháng là 3.338.655 đồng. Theo hợp đồng mua bán đã ký thì Công ty đã tiến hành giao xe cho bà Võ Thị Thu T và bà T sẽ trả số tiền mua chiếc xe trên trong vòng 12 tháng với số tiền là 3.338.655 đồng mỗi tháng như đã thỏa thuận. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng thuê, bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho Công ty từ ngày 26/02/2024, đến nay đã quá hạn hợp đồng hiện tại trễ 567 ngày. Bà T không trả nợ cho Công ty và cũng không trả lại xe máy cho Công ty. Tạm tính đến ngày 15/9/2025 bà Trang còn nợ Công ty Cổ phần S số tiền mua xe chưa trả là 40.063.870 đồng. Nhân viên công ty nhiều lần liên hệ qua điện thoại và đến nhà bà T tại địa chỉ: Tổ 56, khóm B, phường 2, tỉnh Đ nhưng đều không gặp, công ty đã tạo nhiều điều kiện về thời gian để bà Trang trả tiền hoặc tài sản là xe máy đã mua cho Công ty nhưng bà Trang không thực hiện và có biểu hiện trốn tránh không trả lại tài sản cho Công ty.

Nay Công ty Cổ phần S yêu cầu bà Võ Thị Thu T phải thanh toán cho Công ty Cổ phần S số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 15/9/2025 là 41.666.424 đồng, bao gồm tiền mua xe còn lại chưa trả theo hợp đồng là 40.063.870 đồng, số tiền phí thanh toán trễ hạn do vi phạm thời hạn thanh toán hàng tháng theo hợp đồng 4%/tháng/dư nợ hàng tháng tính đến ngày 15/9/2025 là 1.602.554 đồng.

Trường hợp bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ số tiền nêu trên, đề nghị Tòa án tuyên Công ty Cổ phần S được yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm và các tài sản khác để thu hồi khoản nợ cho Công ty. Trong đó tài sản đảm bảo là chiếc mô tô hai bánh biển kiểm soát: 66P2-361.71, nhãn hiệu SH Mode màu xám đen, số khung: RLHJK0118NZ711096- số máy JK01E0309393. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Công ty. Ngoài ra bà T còn phải tiếp tục chịu phí phát sinh do chậm trễ thanh toán theo hợp đồng mua bán đã ký kết ngày 26/01/2024 với mức phí 4%/tháng/dư nợ hàng tháng kể từ ngày 26/02/2024 cho đến khi thi thanh toán xong nợ và Tòa án giải quyết xong vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Cổ phần S thay đổi yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:

Sau khi kiểm tra thủ tục, Công ty Cổ phần S xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Nay Công ty Cổ phần S yêu cầu bà Võ Thị Thu T trả lại số tiền vay 21.911.800 đồng đã chuyển khoản vào ngày 26/01/2024 và yêu cầu tính lãi 0,83%/tháng từ ngày 27/01/2024 đến khi xét xử xong. Do hợp đồng bán xe (Giấy bán xe ngày 26/01/2024) và Hợp đồng mua bán xe ngày 26/01/2024 giữa Công ty Cổ phần S và bà Võ Thị Thu T nhằm bảo đảm hợp đồng vay tài sản nên yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu các giao dịch nêu trên.

Công ty Cổ phần S tự nguyện trả lại bà Võ Thị Thu T bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của biển số 66P2-361.72, loại xe: SH Mode màu Xám đen, số khung: RLHJK0118NZ711096- số máy JK01E0309393 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đ cấp cho bà Võ Thị Thu T sau khi bà Võ Thị Thu T thực hiện xong nghĩa vụ tiền vay cho Công ty Cổ phần S.

Tại phiên tòa,

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty Cổ phần S, ông Nguyễn Hồ Minh M trình bày:

Vào ngày 26/01/2024, bị đơn bà Võ Thị Thu T có vay tiền tại Công ty Cổ phần S thông qua hình thức thực hiện hợp đồng mua bán xe. Do đó, cùng ngày 26/01/2024, Công ty Cổ phần S đã chuyển vào tài khoản của bị đơn bà Võ Thị Thu T số tiền vay 21.911.800 đồng và đồng thời đã thực hiện Hợp đồng bán xe (Giấy bán xe) và Hợp đồng mua bán xe đối với chiếc xe mô tô biển số 66P2-361.72 thuộc quyền sở hữu của bị đơn nhằm bảo đảm số tiền vay. Xe mô tô vẫn do bị đơn bà Võ Thị Thu T quản lý, sử dụng và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số 66P2-361.72 (bản chính) bị đơn giao cho Công ty Cổ phần S quản lý.

Quá trình thực hiện hợp đồng vay, bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ số tiền vay và lãi. Công ty Cổ phần S nhiều lần cử nhân viên đến nhà yêu cầu bà T trả tiền nhưng bà T không trả, không hợp tác, nhiều lần vắng nhà cố tình trốn tránh, Công ty Cổ phần S cam kết bị đơn vẫn còn sống và hiện đang sinh sống tại địa phương.

Nay Công ty Cổ phần S yêu cầu bị đơn bà Võ Thị Thu T trả số tiền vay và lãi tổng cộng là 26.810.110 đồng (hai mươi sáu triệu tám trăm mười nghìn một trăm mười một đồng). (Trong đó, số tiền vay 21.911.800 đồng, với lãi suất 10%/năm, thời gian tính lãi từ ngày 27/01/2024 đến ngày 14/4/2026 (808 ngày), với số tiền 4.898.310 đồng (có bảng kê tính lãi); yêu cầu vô hiệu Hợp đồng mua bán xe (Giấy bán xe ngày 26/01/2024) và Hợp đồng mua bán xe ngày 26/01/2024 giữa Công ty Cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay và bà Võ Thị Thu T; Công ty Cổ phần S sẽ trả lại bà Trang (bản chính) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của biển số 66P2-361.72; loại xe: SH MODE; màu xám đen, số khung: RLHJK0118NZ711096; số máy JK01E0309393 ngày 15/3/2022 do Công an thành phố C, tỉnh Đ cấp cho bà Võ Thị Thu T sau khi bà Võ Thị Thu T thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền vay cho Công ty Cổ phần S.

Công ty Cổ phần S không yêu cầu cá nhân, cơ quan tổ chức nào cùng liên đới thanh toán số tiền vay và lãi với bị đơn, không cung cấp bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.

Đối với bị đơn bà Võ Thị Thu T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định của pháp luật tố tụng, không gửi văn bản ý kiến, không giao nộp tài liệu, chứng cứ và vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ theo đơn khởi kiện, nội dung thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án cùng với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền vay và yêu cầu vô hiệu các hợp đồng mua bán tài sản nên xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về dân sự - Hợp đồng vay tài sản, hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại Điều 430, Điều 463, Điều 472 của Bộ luật Dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại phường Cao Lãnh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng Tháp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Võ Thị Thu T vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung yêu cầu và căn cứ khởi kiện của nguyên đơn:

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn Công ty Cổ phần S khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Võ Thị Thu T thanh toán số tiền bán xe chưa trả và các khoản phí tính đến ngày 15/9/2025 là 41.666.424 đồng. Quá trình giải quyết nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện và xác định bản chất thực hiện các hợp đồng có liên quan nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản. Do đó, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền vay và lãi theo quy định của pháp luật dân sự, với mức lãi suất 10%/năm thời gian tính lãi từ ngày tiếp theo của ngày vay là ngày 27/01/2024 đến ngày 14/4/2026 tổng cộng vay và lãi là 26.810.110 đồng.

Việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn từ yêu cầu số tiền bán xe và các khoản phí tổng cộng 41.666.424 đồng nay chỉ yêu cầu số tiền vay thực tế và lãi theo quy định tính đến ngày 14/4/2026 tổng cộng là 26.810.110 đồng không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu, không bất lợi cho bị đơn.

Công ty Cổ phần S và bị đơn bà Võ Thị Thu T tự nguyện thực hiện các giao dịch: Giấy bán xe ngày 26/01/2024 với thỏa thuận bà Trang sẽ bán xe chiếc xe mô tô biển số 66P2-361.72 cho Công ty Cổ phần S với giá 21.911.800 đồng. Sau đó, cùng ngày Công ty Cổ phần S và bà Võ Thị Thu T tiếp tục ký Hợp đồng mua bán xe, với thỏa thuận Công ty Cổ phần S bán lại cho bà T chiếc xe mô tô biển số 66P2-361.72 với giá 40.063.869,18 đồng, thời gian thanh toán là 12 tháng, mỗi tháng trả số tiền 3.338.655,76 đồng. Mục đích thực hiện các giao dịch này nhằm che giấu giao dịch thực tế là hợp đồng vay tài sản và có tính lãi.

Cùng ngày Công ty Cổ phần S đã chuyển số tiền vay 21.911.800 đồng cho bà Võ Thị Thu T (kèm phiếu chuyển) và bà Võ Thị Thu T giao Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số 66P2-361.72 (bản chính) cho Công ty Cổ phần S quản lý.

Như vậy, vào ngày 26/01/2024 giữa nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đồng thời 03 giao dịch: Hợp đồng vay tài sản, hợp đồng bán xe (Giấy bán xe) và Hợp đồng mua bán xe.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn đã xác định hợp đồng bán xe (Giấy bán xe), Hợp đồng mua bán xe cùng ngày 26/01/2024 nêu trên là hợp đồng giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản, thông qua hình thức trả tiền bán xe hàng tháng để thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay và lãi. Tuy nhiên, từ khi vay bị đơn chưa lần nào trả số tiền vay và lãi cho nguyên đơn.

Đối với bị đơn quá trình giải quyết vụ án không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng, không giao nộp tài liệu, chứng cứ, không gửi văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp để xem xét giải quyết vụ án.

Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự:

“1. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.”

Từ những phân tích nêu trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

Giấy bán xe ngày 26/01/2024 và Hợp đồng mua bán xe ngày 26/01/2024 là các giao dịch dân sự giả tạo nhằm che giấu giao dịch vay tài sản nên vô hiệu.

Bà Võ Thị Thu T có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần S số tiền vay và lãi là 26.810.110 đồng.

Công ty Cổ phần S có trách nhiệm trả lại bà Võ Thị Thu T (bản chính) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của biển số 66P2-361.72, loại xe: SH MODE; màu xám đen, số khung: RLHJK0118NZ711096; số máy JK01E0309393 do Công an thành phố C, tỉnh Đ cấp cho bà Võ Thị Thu T ngày 15/3/2022.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 244, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 124, Điều 131, Điều 429, Điều 430, Điều 431, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ Luật Dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S.

1.1 Giấy bán xe ngày 26/01/2024 giữa bà Võ Thị Thu T và Công ty Cổ phần S vô hiệu.

1.2 Hợp đồng mua bán xe ngày 26/01/2024 giữa Công ty Cổ phần S và bà Võ Thị Thu T vô hiệu.

1.3 Buộc bà Võ Thị Thu T trả cho Công ty Cổ phần S tổng số tiền vay và lãi là 26.810.110 đồng (hai mươi sáu triệu tám trăm mười nghìn một trăm mười đồng).

1.4 Công ty Cổ phần S có trách nhiệm trả lại bà Võ Thị Thu T (bản chính) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số đăng ký 66P2-361.72(T); số loại: SH MODE; màu sơn: Xám đen, số khung: RLHJK0118NZ711096; số máy: JK01E0309393 do Công an thành phố C, tỉnh Đ cấp cho Võ Thị Thu T, ngày 15/3/2022.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 1.340.506 đồng.

Công ty Cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.042.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0000999 ngày 15/01/2026 của Cục Thi hành tỉnh Đ.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ