- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Quang Huy phạm tội “Giết người”; bị cáo Trần Hồng Phúc và Nguyễn Tuấn Vũ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. - phạm tội giết…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ Điều 123 và Điều 318 Bộ luật h nh sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Giết người”; bị cáo Trần Hồng P và Nguyễn Tuấn V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tốt ng h nh sự; Điều 123 Bộ luật h nh sự; Điều 123 Bộ luật tốt ng h nh sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2025/HS-ST Ngày: 29 -7-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Đức Quang
Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Thành – Cán bộ hưu trí.
Ông Đặng Quốc Vũ – Cán bộ tỉnh đoàn
Bà Trần Thị Tuyết Nhung – Giáo viên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Chi - Thư ký TAND tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại T Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh t sơ th m c ng khai v án h nh sự th lý số 26/2025/HSST ngày 29/4/2025 theo Quyết định đưa v án ra t số 49/2025/HSST-QĐ ngày 15/7/2025 đối v i các bị cáo:
1. Họ tên: Nguyễn Quang H; Tên gọi khác: kh ng; Gi i tính: Nam; Sinh ngày 23 tháng 11 năm 2002 tại: ã Đ, huyện Đ (nay là ã Đ), tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: th n M, ã Đ, huyện Đ (nay là ã Đ), tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T n giáo: Kh ng; Thẻ CCCD: 042202000341; cấp ngày 11/4/2021, Nơi cấp: C c C1 về TTXH; Tr nh độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn Anh T; Sinh năm: 1970; Họ và tên mẹ: Trần Thị Ngọc A; Sinh năm: 1978; Anh chị em ruột: 03 người (bị cáo là con thứ hai trong gia đ nh); Vợ con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Kh ng.
Nhân thân: Ngày 27/12/2021, C ng an huyện Đ phạt vi phạm hành chính v i số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; nộp phạt ngày 31/12/2021.
Bị khởi tố về tội "Giết người" và áp d ng biện pháp tạm giam từ ngày 10/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C ng an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang H:
+ Luật sư Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1960; Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luậttỉnh Hà T2. Vắng mặt – Cóđơn xin xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa.
+ Luật sư Võ Ngọc D, sinh năm: 1977; Luật sư Công ty L1. Vắng mặt – Cóđơn xin xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa.
2. Họ tên: Trần Hồng P; Tên gọi khác: kh ng; Gi i tính: Nam; Sinh ngày 28 tháng 4 năm 2005 tại ã T, huyện Đ (nay là ã Đ), tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: th n P, ãDân, huyện Đ (nay là ã Đ), tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T n giáo: Kh ng; Thẻ CCCD: 042205004373; cấp ngày 27/4/2021, nơicấp: C c C1 về TTXH; Tr nh độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Trần Viết C; Sinh năm: 1965; Họ và tên mẹ: Bùi Thị T3; Sinh năm: 1969; Anh chị em ruột: 03 người (bị cáo là con thứ ba trong gia đ nh); Vợ con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Kh ng
Nhân thân: Ngày 03/02/2023 UBND huyện C ra quyết định số 370 lý vi phạm hành chính v i số tiền 7.500.000 đồng về hành vi "Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm". Nộp phạt ngày 6/02/2023.
Bị khởi tố về tội "Gây rối trật tự c ng cộng" và áp d ng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" từ ngày 17/02/2025, tại th n P, ã T, huyện Đ (nay là ã Đ), tỉnh Hà Tĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Họ tên: Nguyễn Tuấn V; Tên gọi khác: kh ng; Gi i tính: Nam; Sinh ngày 12 tháng 01 năm 2007 tại ã Đ, huyện Đ (nay là ã Đ), tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: th n M, ã Đ (nay là ã Đ), huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T n giáo: Kh ng; Thẻ CCCD: 042207000673; cấp ngày 4/5/2021, nơicấp: C c C1 về TTXH; Tr nh độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh; Họ và tên cha: Nguyễn Anh T; Sinh năm: 1970; Họ và tên mẹ: Trần Thị Ngọc A; Sinh năm: 1978; Anh chị em ruột: 03 người (bị cáo là con thứ ba trong gia đ nh); Vợ con: Chưa có;
Tiền án tiền sự: Kh ng;
Bị khởi tố về tội "Gây rối trật tự c ng cộng" và áp d ng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" từ ngày 15/3/2025, tại th n M, ã Đ, huyện Đ (nay là ã Đ), tỉnh Hà Tĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện giám hộ cho Nguyễn Tuấn V: Trần Thị Ngọc A, sinh năm: 1978; địa chỉ: Th n M, ã Đ, huyện Đ (nay là ã Đ), tỉnh Hà Tĩnh.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tuấn V; Luật sư Võ Ngọc D, sinh năm: 1977; Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Vắng mặt – Cóđơn xin xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa.
* Bị hại: Cháu Phan Hoàng D1, sinh ngày 22/7/2009; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ (nay là ã Đ), tỉnh Hà Tĩnh.
Người đại diện giám hộ của bị hại: Bà Hoàng Thị Ánh N, sinh năm: 1980; địa chỉ: Th n T, ã T, huyện Đ (nay là ã Đ), tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Phan Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm T7. Có mặt.
* Người làm chứng:
+ Nguyễn Trần M, sinh ngày 07/8/2005; địa chỉ: Th n T, ã Đ, huyện Đ (nay là ã Đ), tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
+ Nguyễn Sỹ K, sinh ngày 06/9/2007; địa chỉ: Th n T, ã Đ, huyện Đ (nay là ã Đ), tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
+ Nguyễn Viết H2, sinh ngày 17/7/2005; địa chỉ: Th n S, ã Đ, huyện Đ (nay là ã Đ), tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
+ Võ Đức T4, sinh ngày 16/3/2005; địa chỉ: Th n T, ã Đ, huyện Đ (nay là ã Đ), tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
+ Trần Thị H3, sinh ngày 17/4/2004; địa chỉ: Th n M, ã T, huyện C (nay là ã G), tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trần M (sinh năm 2005, trú tại th n T, ã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh) và Trần Hồng P (sinh năm 2005, trú tại th n P, ã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh) có mâu thuẫn v i nhau từ trư c nên vào tối ngày 17/4/2024, Nguyễn Trần M rủ Võ Đức T4 (sinh năm 2005, trú tại th n T, ã Đ, huyện Đ) cùng v i Nguyễn Quang H (sinh năm 2002, trú tại th n M, ã Đ, huyện Đ), Nguyễn Tuấn V (sinh năm 2007, em trai Nguyễn Quang H) đến gặp P tại G s a chữa t Huỳnh Spa của anh Đặng Đ nh H4 ở khu vực cầu K thuộc ã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh để giải quyết mâu thuẫn. Khi gặp nhau th giữa P và M ảy ra cãi vã, do lo sợ P và M đánh nhau nên T4 h to là "Có C ng an đến" nên cả nhóm giải tán, kh ng ảy ra đánh nhau. Ngày 18/4/2024, Nguyễn Quang H, Nguyễn Tuấn V, Nguyễn Trần M, Nguyễn Việt H5 (sinh ngày 17/7/2005, trú tại ã Đ, huyện Đ) và Nguyễn Trung K1 (sinh ngày 6/9/2007, trú tại ã Đ, huyện Đ) rủ nhau đi ra C, tỉnh Nghệ An để em bắn pháo hoa. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Quang H điều khiển e m t E citer, màu đen ám, mang biển kiểm soát 38AA- 121.78 chở Nguyên Tuấn V1 (em trai của H), Nguyễn Trần M, Nguyễn Trung K1 và Nguyễn Việt H5 mỗi người đi một e m t . Khi cả nhóm đi qua Gara s a chữa t Huỳnh Spa của anh Đặng Đ nh H4 (nơi Trần Hồng P làm việc) tại cầu K thuộc ã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh thì Trần Hồng P thấy Nguyễn Trần M đi qua nên P đã lấy một cây iên, làm bằng kim loại, dài 270 cm, một đầu có gắn 03 thanh kim loại nhọn (gọi là iên ba, thường dùng để đánh cá) và điều khiển e m t Wave, biển kiểm soát 37K4-6340 đuổi theo nhóm của Nguyễn Trần M để đánh nhau. Lúc này, Phan Hoàng D1 (sinh ngày 22/7/2009, trú tại th n T, ã T, huyện Đ, làm cùng v i P) thấy P cầm cây iên nghĩ là đi đánh bắt cá nên ngồi lên phía sau xe P đi được khoảng 200 m t th P nói v i D1 là P đuổi theo nhóm Nguyễn Trần M để đánh nhau, D1 kh ng đồng ý đi cùng nên P nói nhờ D1 chở đến chợ H7 ở tổ dân phố D, thị trấn Đ thì D1 đồng ý. Khi đi đến trư c C ng ty trách nhiệm hữu hạn T8 thuộc tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện Đ (cách cầu K khoảng 400 m t) th P đổi lái để Phan Hoàng D1 điều khiển e m t , còn P ngồi sau cầm cây iên ba. Trên đường đi, Trần Hồng P nói Phan Hoàng D1 điều khiến e đi nhanh để đuổi kịp Nguyễn Trần M, thì D1 tăng tốc đi khoảng 50-60km/h, còn M, H điều khiến e đi v i tốc độ khoảng 25-35km/h. Khi đến đường Y, trư c khu vực cổng Ngân hàng V3 thuộc tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện Đ th khoảng cách giữa e do D1 điều khiển v i e của M khoảng 10 m t th P bảo D1 đuổi kịp và áp sát gần e M đề P s d ng iên ba đánh M, nhưng do M phát hiện D1 đang đuổi theo m nh nên M điều khiển e chạy gần H và nói "thằng P cầm g đuổi lên đó rồi". Khi đến trư c khu vực cổng Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ (cách khu vực Ngân hàng V3 khoảng 100 mét) thì D1 đuổi kịp M và H, lúc này cả ba phương tiện đi cùng chiều, song song v i nhau, theo hư ng đi đến đê L, D1 chở P đi phía ngoài cùng bên trái, M đi ở giữa, phía trong là H chở V1, lúc này P ngồi phía sau dùng cây iên ba đâm về phía người M thì M tăng ga bỏ chạy nên kh ng trúng và hư ng cây iên đâm về phía người H và V1, lúc này Nguyễn Quang H đánh lái e sang bên phải để tránh th bị ngã bên lề đường. Phan Hoàng D1 tiếp t c chở P đuổi theo M được khoảng hơn 500m t đến khu vực chợ H7 th kh ng thấy M nên quay lại. Còn H và V1 sau khi bị ngã th đứng dậy để đi tiếp nhưng e bị hỏng nên đi bộ theo hư ng di chuyển, cách vị trí bị ngã khoảng 10 m t. Khi D1 và P quay lại thấy H và V1 đang đứng ở lề đường bên trái phía trư c, cách khoảng 60m th P hô lên "Đây rồi, đây rồi” và bảo D1 dừng e để P uống đánh H và V1, nhưng do D1 đang điều khiển e đi v i tốc độ nhanh nên kh ng kịp dừng lại. Lúc này, Nguyễn Quang H và Nguyễn Tuấn V nghe tiếng b e tự chế của P quay lại, nhìn thấy D1 điều khiển e chở P nên H nhặt một viên gạch lát vỉa hè, h nh hộp chữ nhật, kích thư c (9,5 9,5 5,5) cm có sẵn ở lề đường, Vũ nhặt hai viên gạch có kích thư c tương đồng cầm sẵn trên tay nhằm m c đích n m vào người Trần Hồng P và Phan Hoàng D1. Khi thấy P và D1 đi phía bên kia đường th H và V chủ động đi ra giữa đường về phía P và D1, tay cầm gạch chờ D1 và P đi đến gần để n m. Khi khoảng cách từ V đến vị trí D1 đang điều khiển e khoảng 6 mét thì V n m 01 viên gạch về phía P, nhưng kh ng trúng. Khi D1 điều khiển e vừa đi qua trư c mặt H, cách vị trí H đứng khoảng gần 4 m t (vị trí giữa thân e gần vu ng góc v i vị tri đứng của H) thì H n m viên gạch trúng vào phía bên trái đầu (sau mang tai) của Phan Hoàng D1, V tiếp t c cầm viên gạch còn lại đuổi theo n m tiếp về phía P nhưng kh ng trúng. Sau khi bị H n m gạch trúng vào vùng đầu, D1 điều khiển e bị mất lái, rồi ngã uống lề đường bên phải theo chiều đi và bất tỉnh. Thấy vậy, H và V lao vào đánh P, nhưng P đứng dậy và cầm cây iên đâm về phía người H nhiều cái nhưng kh ng trúng, H lấy được cây iên từ tay P nên P bỏ chạy vào tr sở C ng an huyện Đ (cách nơi ảy ra sự việc khoảng 20 m t) để tr nh báo sự việc. Còn Phan Hoàng D1 được một số người đưa đến bệnh viện Đa khoa huyện Đ để cấp cứu, nhưng do bị vỡ lún ương đỉnh trái, vỡ ương thái dương trái và một số tổn thương khác nên được chuyển đến Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa tỉnh N điều trị từ ngày 18/4/2024 đến ngày 24/5/2024 th ra viện. Đến ngày 21/6/2024, Phan Hoàng D1 tiếp t c phẫu thuật tạo h nh sọ bằng ương tự thân và điều trị đến ngày 04/7/2024 th ra viện, chờ tái khám lại. Kết quả: Phan Hoàng D1 bị tổn thương cơ thể v i tỷ lệ phần trăm tại thời điểm giám định là: 88%; 2 e m t bị hư hỏng nhẹ.
- Biên bản xác định hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh lập vào hồi 7 giờ 02 phút ngày 19/4/2024 phản ánh:
Hiện trường v việc được ác định là khu vực đường Y, thuộc địa phận tổ dân phố G, thị trấn Đ. Đường Y rộng 08m, gồm hai phần đường ngược chiều, được phân chia bằng vạch đơn, n t đứt màu vàng, mặt đường bê t ng nhựa. Cổng Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ tiếp giáp v i đường Y rộng 11,6m; Dấu vết đánh số 01 là vết cày ư c để lại trên bề mặt bê t ng (trư c cổng Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ), dài 4,3m, rộng 0,001m, kh ng liên t c; điểm đầu vết cày ư c cách cột cổng phía bên trái (theo hư ng từ trong nh n ra) của Tòa án 6,7m; điểm cuối vết cày ư c cách cột cổng phía bên trái (theo hư ng từ trong nh n ra) của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ là 8,39m.
- Tại Bản kết luận giám định thương tích số 185/KLTTCT-TTPY ngày 25/4/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y, kết luận: Căn cứ Th ng tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể s d ng trong giám định Phápgiám định Pháptâm thần ác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của PhạnDương tại thời điểmđịnh là: 57%. Đề nghị giám địnhbổ sung sau khi ổn định ra viện 3-4 tháng.
- Tại Bản Kếtgiám định bổ sung số 372 ngày 30/7/2024 của Trung tâm pháp y, sởtế Nghệ An, kết luận: Căn cứ Th ng tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 Quytỷ lệ phân trăm tổn thương cơ thể s d ng trong giám định Phápgiám định Pháptâm thần ác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Hoàng D1 tại thời điểm giám định là: 88%.
* Về dân sự: Quá tr nh điều tra bị cáo Nguyễn Quang H đã tác động v i gia đ nh tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại Phan Hoàng D1 tổng số tiền 120.000.000 đồng.
* Vật chứng, đồ vật, tài sản đã thu giữ:
+ Thu giữ từ Nguyễn Quang H: 01 e m t , biển số 38AA-121.78, sơn màu đen ám, nhãn hiệu Yamaha, loại E citer; 01 viên gạch h nh hộp chữ nhật, kích thư c (9,5 9,5 5,5) cm, có bám dính b i đất;
+ Thu giữ từ bị can Nguyễn Tuấn V: 01 viên gạch h nh hộp chữ nhật, kích thư c (9,5 9,5 5,5) cm, bị sứt mẻ một góc kích thư c (6,5 11) cm, có bám dính b i đất; 01 viên gạch h nh hộp chữ nhật, kích thư c (9,5 9,5 5,5) cm, bị sứt mẻ một góc kích thư c (2 2) cm,có bám dính b i đất.
+ Thu giữ từ bị can Trần Hồng P: 01 e m t , biển kiểm soát 37K4-6340, sơn màu đen; 01 cây iên bằng kim loại, tổng chiều dài 270 cm, phần cán được làm ống kim loại đường kính 02 cm, dài 2,1 cm; một đầu gắn 03 thanh kim loại nhọn;
Đã chuyển đến C c Thihành án dân sự tỉnh H để lý theo quy định của pháp luật.
V i hành vi trên, tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS-P2, ngày 29 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Nguyễn Quang H về tội "Giết người" theo quy định tại điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật H nh sự; Trần Hồng P, Nguyễn Tuấn V về tội "Gây rồi trật tự c ng cộng" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật H nh sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích, đánh giá các t nh tiết của v án đã đề nghị Hội đồng t : Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Giết người”; bị cáo Trần Hồng P và Nguyễn Tuấn V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Về hình phạt:
- Áp d ng điểm b, n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 38, Điều 54, khoản 3 Điều 57 Bộ luật h nhsự: X phạt bị cáo Nguyễn Quang H từ 08 năm đến 09 năm. Thời gian chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo (ngày 10/5/2024).
- Áp d ng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật h nhsự: X phạt bị cáo Trần Hồng P từ 36 đến 42 tháng tù. Thời gian chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Áp d ng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật H nh sự; Điều 37, Điều 115, Điều 119, Điều 124, Điều 179 Luật tưngười chưa thành niên: X phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách từ 24 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ th m.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật h nhđiểm a, c khoản 2, điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tốt ng h nh sự:
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng là c ng c phạm tội, nay kh ng còn giá trị s d ng gồm: 01 (một) cây iên bằng kim loại, tổng chiều dài 270cm, phần cán được làm bằng ống kim loại đường kính 02cm; 03 viên gạch h nh hộp chữ nhật, có bám dính b i đất có kích thư c (9,5 9,5 5,5).
- Tịch thu sung Ngânnhànư c phương tiện bị cáo s d ng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, gồm: 01 e máy nhãn hiệu WANA, sơn màu anh, biển kiểm soát 37K4-6340, số khung 013531, số máy MH201353 thu giữ của Trần Hồng P.
- Trả lại cho Nguyễn Quang H chiếc e máy bị cáo kh ng s d ng vào việc phạm tội: 01 e máy nhãn hiệu Yamaha, loại E citer, có gắn BKS 38AA-121.78, số khung PY384703, số máy E1155741, sản uất năm 2023 của Nguyễn Quang H.
Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Quang H, Trần Hồng P, Nguyễn Tuấn V nhận thức được sai phạm của bản thân và đề nghị Hội đồng t
em t giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo, bị cáo V đề nghị được cải tạo giáo d c tại địa phương để tiếp t c học tập, có điều kiện s a chữa lỗi lầm của bản thân.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang H – Luật sư Nguyễn Văn T1 và Luật sư Võ Ngọc D vắng mặt, nhưng có luận cứ bào chữa: Phân tích tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, yếu tố lỗi trong v án và đề nghị H6 căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 54, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật h nhsự để phạt bị cáo Nguyễn Quang H mức án vừa nghiêm minh, vừa khoan dung, đúng bản chất v án, đúng chính sách h nh sự của của Đ và Nhà nư c, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự c ng bằng và nhân đạo của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tuấn V - Luật sư Võ Ngọc D vắng mặt, nhưng có luận cứ bào chữa: Phân tích tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, yếu tố lỗi trong v án và đề nghị Hội đồng t căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, chươngcủa Bộ luật h nhđể t cho bị cáo V được hưởng án treo hoặc h nh phạt cải tạo không giam giữ, tạo điều kiện cho bị cáo tiếp t c học tập, rèn luyệnvà hòa nhập cộng đồng.
Bị hại em Phan Hoàng D1 và đại diện bị hại bà Hoàng Thị Ánh N đề nghị Hội đồng t
em t giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo Nguyễn Quang H.
Bà Phan Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Phân tích tính chất hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Quang H, các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, những tổn hại đối v i bị hại trong v án và đề nghị Hội đồng t
em t giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo Nguyễn Quang H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của v án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa. Hội đồng t nhận định như sau:
Về thủ t c tố t ng: Hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnhđiều tra C ng an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Đ1, Kiểmsát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện và tuân thủ đúng th m quyền được quy định tại Bộ luật Tốh nh sự. Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa v liên quan kh ng có ý kiến, hay khiếu nại g về hành vi, quyết định của cơtiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi, quyết định tố t ng của Cơquan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Quang H, Trần Hồng P, Nguyễn Tuấn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh. Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa v liên quan, người làm chứng trong quá tr nh điều tra, các chứng cứ có tại hồ sơ, vật chứng, kếtgiám định, biênkhám nghiệm hiện trường, th ng qua quá tr nh t hỏi, tranh t ng tại phiên toà. Hội đồng t có đủ cơ sở để khẳng định: Do Trần Hồng P và Nguyễn Trần M ảy ra mâu thuẫn v i nhau từ trư c nên khoảng 18 giờ 30 phút ngày 18/4/2024, khi nh n thấy M cùng Nguyễn Quang H, Nguyễn Tuấn V (em trai của H) và một số người bạn của M đi qua Gara s a chữa t Huỳnh S ở khu vực cầu K, thuộc ã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh thì P lấy một cây iên làm bằng kim loại, dài 270 cm, một đầu có gắn 03 thanh kim loại nhọn (gọi là iên ba) và điều khiển e m t Wave, biển kiểm soát 37K4-6340, đi cùng v i Phan Hoàng D1 (sinh ngày 22/7/2009) rượt đuổi theo nhóm của Nguyễn Trần M trên tuyến đường Quốc lộ 8A rồi rẽ vào đường Y đến đường Đ thuộc khối phố D, thị trấn Đ, huyện Đ để đánh nhau. Quá tr nh rượt đuổi, Trần Hồng P đã s d ng cây iên ba đâm hư ng về phía Nguyễn Trần M, Nguyễn Quang H và Nguyễn Tuấn V làm cho H và V bị ngã uống lề đường. Sau khi kh ng đuổi kịp Nguyễn Trần M, Phan Hoàng D1 điều khiển e chở Trần Hồng P quay lại th bị Nguyễn Quang H lấy 01 viên gạch lát via hè n m trúng vào phía bên trái đầu (sau mang tai) của Phan Hoàng D1 làm cho e m t ngã uống đường, D1 bị bất tỉnh; Nguyễn Tuấn V s d ng 02 viên gạch lát vỉa hè n m vào Trần Hồng P nhưng kh ng trúng. Sau đó giữa H, V và P tiếp t c đuổi đánh nhau nên P chạy vào Công an huyện Đ để tr nh báo. Hậu quả Phan Hoàng D1 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 88%. Trong v án này, bị cáo Nguyễn Quang H thực hiện hành vi s d ng 01 viên gạch (loại gạch lát vỉa hè kích thư c 9,5 9,5 5,5 cm, trọng lượng 1,2kg) n m trúng vào vùng đầu Phan Hoàng D1 khi D1 đang điều khiển e m t chở Trần Hồng P làm Phan Hoàng D1 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 88%. Trần Hồng P là người khởi sự, trực tiếp thực hiện hành vi gây rối trật tự c ng cộng, còn Nguyễn Tuấn V là người tham gia trực tiếp hành vi gây rối trật tự c ng cộng. Hành vi của Nguyễn Quang H s d ng “Viênlà “hungí nguy hiểm” n m vào vùng đầu, là vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại Phan Hoàng D1 khi D1 đang điều khiển e m t v i ý thức bỏ mặc hậu quả ảy ra, thể hiện tính chất c n đồ, quyết liệt và ý thức cố ý tư c đoạt tính mạng của cháu Phan Hoàng D1, việc cháu D1 kh ng chết là do được cứu chữa kịp thời, nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo; mặt khác khi H gây án cháu D1 chưa đủ 16 tuổi (cháu D1 sinh ngày 22/7/2009). Do đó, hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” v i t nh tiết định khung “Giết người dư i 16 tuổi” và “Có tính chất c n đồ” quy định tại điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật h nhHành vi của bị cáo Trần Hồng P s d ng “một iên làm bằng kim loại dài 270 cm” và bị cáo Nguyễn Tuấn V s d ng “Viênlà “Hungđuổi đánh nhau đã âm phạm trật tự an toàn c ng cộng, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng, bất an trong quần chúng nhân dân, hành vi của P và V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật H nh sự.
X t tính chất hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, các t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự của các bị cáo:
3.1. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Quang H là đặc biệt nghiêm trọng, đã làm tổn hại sức khỏe bị hại, gây sự bất b nh trong ã hội; thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; mặt khác về nhân thân ngày 27/12/2021 bị C ng an huyện Đ phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc, nhưng bị cáo kh ng lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, nên cần t bị cáo mức án nghiêm, tương ứng v i tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra m i có tác d ng cải tạo, giáo d c bị cáo và phòng ngừa chung đối v i ã hội.
Tuy nhiên, cũng cần em t để giảm một phần trách nhiệm h nh sự cho bị cáo, v trong quá tr nh điều tra và tại phiên tòa thành kh n khai báo; bị cáo đã tác động gia đ nh bồi thường cho bị hại số tiền 120.000.000 đồng, quá tr nh điều tra và tại phiên tòa bị hại và gia đ nh bị hại in giảm nhẹ h nh phạt, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa v quân sự từ năm 2022 đến năm 2024; có ng nội Nguyễn Văn T5 là liệt sỹsinh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nư c được Thủ tư ng Chính phủ tặng Bằng Tổ quốc ghi c ng; ng ngoại ng Trần Sỹ V2 là người có c ng v i cách mạng được Nhà nư c tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất; mặt khác t về yếu tố lỗi th bị hại Phan Hoàng D1 cũng có một phần lỗi khi s d ng e m t chở Nguyễn Hồng P1 dùng hung khí đuổi đánh Nguyễn Quang H làm H và V ngã e, sau đó còn tiếp t c chạy e quay lại đuổi đánh H và V, đây là những t nh tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh sự; Ngoài ra, hành vi “Giết người” của Nguyễn Quang H, gây tổn hại cho người bị hại 88% sức khoẻ, hậu quả chết người chưa y ra, nên thuộc trường hợp “phạmchưa đạt” quy định tại Điều 15 Bộ luật H nhv vậy căn cứ khoản 3 Điều 57 Bộ luật H nhsự để lý đối v i bị cáo khi lượng h nh.
3.2 Hành vi của bị cáo Trần Hồng P là nghiêm trọng, P là người khởi sự việc đánh nhau, bị cáo đã dùng “mộtcây iên làm bằng kim loại dài 270 cm” đuổi đánh Nguyễn Trần M, Nguyễn Quang H và Nguyễn Tuấn V, dẫn đến việc Nguyễn Quang H dùng gạch chống trả gây thương tích nặng cho Phan Hoàng D1; mặt khác t về nhân thân, ngày 03/02/2023 bị cáo bị UBND huyện C phạt hành chính 7.500.000đồng về hành vi “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”, do đó cần t bị cáo mức án nghiêm, tương ứng v i tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên cũng cần em t để giảm một phần trách nhiệm h nh sự cho bị cáo, v trong quá tr nh điều tra và tại phiên tòa thành kh n khai báo.
3.3. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tuấn V là nghiêm trọng, trong khi đuổi đánh nhau bị cáo đã s d ng viên gạch lát vỉa hè n m về phía Trần Hồng P và Phan Hoàng D1, v vậy cần t bị cáo mức án nghiêm, tương ứng v i tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên cũng cần em t để giảm một phần trách nhiệm h nh sự cho bị cáo, v trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành kh n khai báo; có ng nội Nguyễn Văn T5 là liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nư c được Thủ tư ng Chính phủ tặng Bằng Tổ quốc ghi c ng; ng ngoại ng Trần Sỹ V2 là người có c ng v i cách mạng được Nhà nư c tặng Huânkháng chiến hạng Nhất, đây là những t nh tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Tuấn V tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi (m i 17 tuổi 3 tháng 6 ngày) nên được áp d ng các quy định lý đối v i người dư i 18 tuổi tại Chương XII Bộ luật h nh X t bị cáo V là người có nhân thân tốt, khi phạm tội đang ở tuổi vị thành niên, được hưởng nhiều t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, có nơi cư trú ổn định, mặt khác hiện nay bị cáo đang là học sinh, nên Hội đồng t nhận thấy kh ng cần thiết áp d ng h nh phạt tù giam đối v i bị cáo mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo d c đối v i bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo có cơ hội tiếp t c học tập, s a chữa lỗi lầm của bản thân, thể hiện sự khoan hồng và tính nhân đạo của pháp luật đối v i bị cáo. Do đó mức h nh phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đốiv i các bị cáo là phù hợp nên cần được chấp nhận.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tốh nh sự cần tiếp t c tạm giam đối bị cáo Nguyễn Quang H để đảm bảo cho c ng tác thi hành án. Căn cứ Điều 123 Bộ luật tốt ng h nh sự cần tiếp t c cấm đi khởi nơi cư trú và tạm hoãn uất cảnh đối v i các bị cáo Trần Hồng P và Nguyễn Tuấn V để đảm bảo cho c ng tác thi hành án.
Đối v i hành vi của các đối tượng liên quan trong v án:
- Đối v i hành vi của Nguyễn Tuấn V s d ng 02 viên gạch lát vỉa hè cùng v i Nguyễn Quang H ném vào Trần Hồng P là hành vi bộc phát, giữa V và H không có sự bàn bạc từ trư c nên kh ng đồng phạm v i Nguyễn Quang H về tội Giếtmà lý về tội Gâyrối trật tự c ng cộng.
- Phan Hoàng D1 (sinh ngày 22/7/2009, trú tại th n T, ã T, huyện Đ) có hành vi chở Trần Hồng P tham gia đánh nhau có dấu hiệu đồng phạm v i Trần Hồng P về tội "Gây rối trật tự c ng cộng" theo Điều 318 Bộ luật H nh sự. Tuy nhiên, thời điểm ảy ra sự việc Phan Hoàng D1 m i 14 tuổi 8 tháng 26 ngày (chưa đủ 16 tuổi) nên D1 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm h nh sự về tội "'Gây rối trật tự c ng cộng".
Về trách nhiệm dân sự: Quá tr nh điều tra bị cáo Nguyễn Quang H đã tác động v i gia đ nh tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại Phan Hoàng D1 tổng số tiền 120.000.000 đồng. Tại phiên tòa đại diện bị hại và bị hại kh ng yêu cầu g thêm về phần bồi thường dân sự nên Hội đồng t kh ng em t.
Về vật chứng v án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật h nhđiểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tốt ng h nh sự:
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng là c ng c phạm tội, nay kh ng còn giá trị s d ng gồm: 01 (một) cây iên bằng kim loại, tổng chiều dài 270cm, phần cán được làm bằng ống kim loại đường kính 02cm; 03 viên gạch h nh hộp chữ nhật, có bám dính b i đất có kích thư c (9,5 9,5 5,5).
- Tịch thu sung Ngânnhànư c phương tiện bị cáo s d ng trong quá tr nh thực hiện hành vi phạm tội, gồm: 01 e máy nhãn hiệu WANA, sơn màu anh, biển kiểm soát 37K4-6340, số khung 013531, số máy MH201353 thu giữ của Trần Hồng P.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quang H 01 e máy nhãn hiệu Yamaha, loại E citer, có gắn BKS 38AA-121.78, số khung PY384703, số máy E1155741, sản uất năm 2023 của Nguyễn Quang H.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tốh nh sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí tòaán buộc các bị cáo phải chịu án phí h nh sự sơ th m theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Căn cứ Điều 123 và Điều 318 Bộ luật h nh sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Giết người”; bị cáo Trần Hồng P và Nguyễn Tuấn V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Về hình phạt:
- Áp d ng điểm b, n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 38, Điều 54, khoản 3 Điều 57 Bộ luật h nhsự: X phạt bị cáo Nguyễn Quang H 08 (T6) năm tù. Thời gian chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo (ngày 10/5/2024).
- Áp d ng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật h nhX phạt bị cáo Trần Hồng P 36 (Ba sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Áp d ng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật H nh sự; Điều 37, Điều 115, Điều 119, Điều 124, Điều 179 Luật tưngười chưa thành niên: X phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách 24 (Hai bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ th m.
Giao bị cáo Nguyễn Tuấn V cho UBND xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh và Công an xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh giám sát trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Tuấn V có trách nhiệm phối hợp với UBND và Công an xã Đ trong việc giám sát, quản lý, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thihành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hìnhsự.
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật h nhđiểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tốt ng h nh sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây iên bằng kim loại, tổng chiều dài 270cm, phần cán được làm bằng ống kim loại đường kính 02cm; 03 viên gạch h nh hộp chữ nhật, có bám dính b i đất có kích thư c (9,5 9,5 5,5).
- Tịch thu sung Ngânnhànư c: 01 e máy nhãn hiệu WANA, sơn màu anh, biển kiểm soát 37K4-6340, số khung 013531, số máy MH201353 thu giữ của Trần Hồng P.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quang H: 01 e máy nhãn hiệu Yamaha, loại E citer, có gắn BKS 38AA-121.78, số khung PY384703, số máy E1155741, sản uất năm 2023 của Nguyễn Quang H.
Tình trạng cụ thể các vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng số 48/2025, ngày 29/4/2025 giữa Cơ quan cảnhđiều tra Công an tỉnh H và Cục thihành án dân sự tỉnh H.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí tòaán: Buộc các bị cáo Nguyễn Quang H, Trần Hồng P, Nguyễn Tuấn V mỗi người phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí h nh sự sơ th m.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tốt ng h nh sự: Các bị cáo, bị hại, người đại diện của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa Phúc th m TAND TC tại Hà nội; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Phòng PV06 C ng an tỉnh Hà Tĩnh; - Phòng PC01 C ng an tỉnh Hà Tĩnh; - Trại tạm giam C ng an tỉnh Hà Tĩnh; - C c THADS tỉnh Hà Tĩnh; - Thi hành án h nh sự TAND tỉnh; - Bị cáo; bị hại; người đại diện, người bào chữa của bị cáo, người BVQLIHP bị hại. - Người có QLVNVLQ; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Đức Quang |