vanban.org

Bản án 49/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 11/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Thị T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Ngô Thị T: 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 11 tháng 4 năm 2025). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGÔ THỊ TRANG - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Thị T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HS-ST
Ngày: 11 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vũ Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Kim Đào

Ông Nguyễn Minh Thắng

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Lực - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Ngô Thị T; sinh năm 1982, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn A, xã B , huyện C, tỉnh D quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Ngô Đình T (đã chết); con bà: Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1958, nghề nghiệp: Làm nông, hiện trú tại: Thôn A, xã B , huyện C, tỉnh D gia đình có 07 người con, bị cáo là con thứ hai; chồng: Nguyễn Bá L, sinh năm: 1974, nghề nghiệp: Không nghề; có 03 người con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 18/11/2024 đến ngày 27/11/2024; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Phương P; địa chỉ: Khối 4, thị trấn A, huyện B, tỉnh C, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 18/11/2024, Ngô Thị T đi bộ từ nhà đến ngã 3 Tân Long, Hướng Hóa, Quảng Trị để tìm mua chuối bán kiếm lời. Tại đây, T gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lý lịch) thuê T vận chuyển 05 hộp pháo hoa nổ về giao cho người nhận tại vỉa hè khu vực ngã tư đường Điện Biên Phủ - Hùng Vương gần bệnh viện tỉnh Quảng Trị (thuộc phường Đông Lương, thành phố Đông Hà) với tiền công 400.000 đồng và được T đồng ý. Người này giao cho T 05 hộp pháo hoa nổ, bên ngoài có vỏ bọc giấy, ký hiệu C0833, in hoa văn nhiều màu sắc (01 hộp được đựng trong túi vải màu trắng, ở trên phủ 01 áo thun màu xám và 01 quần dài màu hồng và 04 hộp được bọc trong 01 túi ni long màu đen, để trong 01 túi bạt nhiều màu sắc) và 400.000 đồng tiền công. Sau khi nhận pháo, T đi nhờ xe của một người đàn ông (không rõ lai lịch và địa chỉ) để về khu vực dốc Tân Liên, xã Tân Liên, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị để đón xe ô tô khách về thành phố Đông Hà. Khoảng 06 giờ 40 phút cùng ngày, T lên xe ô tô biển kiểm soát 74G-005.41 do ông Nguyễn Phương P điều khiển (trú tại: Khối 4, thị trấn a, huyện b, tỉnh c làm chủ) và để toàn bộ số pháo hoa tại vị trí để chân chỗ T ngồi. Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, khi xe ô tô về đến đường Điện Biên Phủ (thuộc Khu phố Tân Vĩnh, phường Đông Lương, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị) thì bị Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Quảng Trị phối hợp với Công an thành phố Đông Hà kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số pháo hoa nổ trên.

Tại Kết luận giám định số: 1281/KL-KTHS ngày 26/11/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:

Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy có kí hiệu A4 gửi đến giám định là pháo hoa nổ, tổng khối lượng: 6,6kg.

Cáo trạng số 40/CT-VKS-ĐH ngày 21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Ngô Thị T về tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Ngô Thị T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt Ngô Thị T: Từ 06 đến 08 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 400.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam bị cáo có được là do thu lợi bất chính nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 05 (năm) hộp pháo hoa nổ, mẫu còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 (một) xách vải màu trắng; 01 (một) áo thun màu xám; 01 (một) quần dài màu hồng; 01 (một) túi bạt nhiều màu sắc; 01 (một) bao nilong màu đen không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/11/2024, Ngô Thị T đã có hành vi vận chuyển 6,6 kg pháo hoa nổ từ xã Tân Long, huyện Hướng Hóa về thành phố Đông Hà với tiền công là 400.000 đồng.

Như vậy, hành vi trên của Ngô Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Xét về tính chất, hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mới có tác dụng giáo dục, răn đe trong việc phòng, chống tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, bị cáo Ngô Thị T có hoàn cảnh gia đình khó khăn; chồng không có nghề nghiệp hiện đang được hưởng chế độ trợ cấp đối với người khuyết tật nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Việc không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ răn đe và giáo dục bị cáo.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu FORD, loại xe: Ô tô khách, số loại: Transit, số máy: F1P04188DURATORQ4D243H, số khung: RL3MLTGMCFDR35780, mang biển kiểm soát: 74G-005.41 (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong) và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 74000334 của xe ô tô khách mang biển kiểm soát 74G-005.41 không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.

- 05 (năm) hộp pháo hoa nổ, kích thước mỗi hộp (14,5x14,5x12)cm, có vỏ bọc giấy kí hiệu C0833, in hoa văn nhiều màu sắc và pháo nổ còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 (một) xách vải màu trắng kích thước (42x38)cm; 01 (một) áo thun màu xám kích thước (45x36)cm; 01 (một) quần dài màu hồng kích thước (48x28)cm; 01 (một) túi bạt nhiều màu sắc, kích thước (40x43)cm; 01 (một) bao nilong màu đen, kích thước (44x40)cm không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với số tiền 400.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam bị cáo có được là do thu lợi bất chính nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Thị T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt:

Bị cáo Ngô Thị T: 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 11 tháng 4 năm 2025).

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

3. Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo Ngô Thị T theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 31/2025/LCĐKNCT-HS ngày 21/02/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 22/QĐ-TA ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà.

Giao bị cáo Ngô Thị T cho Ủy ban nhân dân xã Tân Long, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu, tiêu hủy:

- 05 (năm) hộp pháo hoa nổ, kích thước mỗi hộp (14,5x14,5x12)cm, có vỏ bọc giấy kí hiệu C0833; 01 (một) túi xách vải màu trắng kích thước (42x38)cm; 01 (một) áo thun màu xám kích thước (45x36)cm; 01 (một) quần dài màu hồng kích thước (48x28)cm; 01 (một) túi bạt nhiều màu sắc, kích thước (40x43)cm và 01 (một) bao nilong màu đen, kích thước (44x40)cm.

+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam (Đã nộp vào tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Trị).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà).

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ