- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - GIA LAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2025/HS-ST Ngày: 26 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - GIA LAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Loan Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Đình Hoằng và bà Doãn Thị Lệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thái Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2025/TLST-HS ngày 09/9/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HS ngày 12/9/2025 đối với bị cáo:
Mai Xuân T, sinh ngày 10/9/1966 tại Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi đăng ký HKTT: Chung cư T, phường T1, Thành phố H; Nơi ở hiện tại: Thôn B, xã Ia H, tỉnh G; T độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn Bôn (đã chết) và bà Lê Thị Vinh (đã chết); Bị cáo sống như vợ chồng với chị Ksor H’Thương; tiền án: Tại bản án số 1031/HSST ngày 25/8/2000 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 14/5/2007, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/6/2025 đến ngày 09/6/2025, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Pleiku – Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh Gia Lai. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
Ông Nguyễn Phùng Đ, sinh năm 1957; Địa chỉ: Tổ 02, phường Đống Đa, thành phố Pleiku (nay là phường Thống Nhất), tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà K’sor H, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn B, xã Ia H, tỉnh G. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Xuân T có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy và không có nơi ở nhất định. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 31/5/2025, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám, biển số 81B2-185.58 để đi làm tại quán cà phê trên đường Tôn Thất Tùng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai. Khi đi ngang qua Công ty TNHH thiết bị PCCC 4-10 Gia Lai ở 91 đường Lê Duẩn, Tổ 6, phường Phù Đổng, thành phố Pleiku (nay là phường Pleiku), tỉnh Gia Lai, thì phát hiện thấy 01 chiếc máy cắt nhôm nhãn hiệu Dekton, loại DK-CNN 265 BT của ông Nguyễn Phùng Đ (sinh năm 1957) để trước nhà nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc máy cắt nhôm này; T dừng xe quan sát thấy không người trông coi nên T đi vào lấy chiếc máy cắt nhôm trên để lên xe rồi điều khiển xe đi đến bãi đất trống trên đường Trần Văn Bình, phường Pleiku, cất giấu. Sau khi sự việc xảy ra, ông Đạt đã đến Công an phường Phù Đổng (nay là phường Pleiku) T báo. Đến 10 giờ 01/6/2025, Mai Xuân T đến Công an phường Phù Đổng (nay là phường Pleiku) đầu thú, giao nộp 01 chiếc máy cắt nhôm nhãn hiệu Dekton, loại DK-CN 265/BT và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Qua định giá, tại Bản kết luận định giá tài sản số 77/KL-HĐĐGTS ngày 06/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Pleiku, kết luận: 01 chiếc máy cắt nhôm nhãn hiệu Dekton, loại DK-CN 265 BT có trị giá 3.800.000 đồng.
Về dân sự: Sau khi nhận được tài sản, ông Nguyễn Phùng Đ không yêu
cầu bồi thường gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 08/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai đã truy tố bị cáo Mai Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mai Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo T từ 09 tháng đến 01 năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá T điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, T tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do đó đã có đủ cơ sở xác định: Lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người khác, vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 31/5/2025, tại Công ty TNHH thiết bị PCCC4-10 ở số 91 đường Lê Duẩn, phuờng Pleiku, tỉnh Gia Lai, bị cáo Mai Xuân T đã lén lút chiếm đoạt chiếc máy cắt nhôm nhãn hiệu Dekton, loại DK-CN 265 BT của ông Nguyễn Phùng Đ có trị giá 3.800.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở tuyên bố bị cáo Mai Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã phạm tội chưa được xoá án tích mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Quá T điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đầu thú, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ sở hữu tài sản của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo vệ đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm và bị trừng trị nhưng do tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên đã cố tình thực hiện tội phạm. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhưng không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Mai Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Mai Xuân T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (01/6/2025).
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Mai Xuân T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (26/9/2025), bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn trên đối với người vắng mặt tại phiên tòa là kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND khu vực 7 - Gia Lai; - Công an tỉnh Gia Lai; - Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Loan Phương |