vanban.org

Bản án 49/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Hạng A Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hạng A Th 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 13/7/2025). Về vật chứng vụ án: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện B trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, màu đỏ, trắng đen, không có biển kiểm soát; số máy: JC52E1195275; số k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hạng A Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Hạng A Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐIỆN B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HS-ST
Ngày 24-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Hải Nam, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện B, tỉnh Điện B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện B tham gia phiên tòa: Bà Phùng Cẩm Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện B, tỉnh Điện B tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2025/TLST- HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hạng A Th; sinh ngày 10 tháng 5 năm 2005, tại Điện B; nơi ĐKHKTT trước khi bị bắt: Bản Ph L B, xã P Nh, tỉnh Điện B; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hạng Giống Ch, sinh năm 1969; con bà Sùng Thị S; sinh năm 1974; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; tạm giữ từ ngày 13/7/2025; tạm giam từ ngày 19/7/2025 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Chị Tòng Thị B, sinh ngày 05/9/1995; nơi cư trú: Bản N Ng A, xã P Nh, tỉnh Điện B, vắng mặt có lý do.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Cháu Hạng A S, sinh ngày: 03/02/2011; nơi cứ trú: Bản Ph L B, xã P Nh, tỉnh Điện B, vắng mặt có lý do.

+ Ông Hạng Giống Ch, sinh năm 1969; nơi cư trú: Bản Ph L B, xã P Nh, tỉnh Điện B, có mặt.

- Người đại diện theo pháp luật của cháu Hạng A S:

+ Anh Hạng A D, sinh năm 1985 (bố đẻ cháu S); nơi cư trú: Bản Ph L B, xã P Nh, tỉnh Điện B, vắng mặt có lý do.

- Những người làm chứng:

+ Anh Lò Văn T, sinh năm 1993; nơi cư trú: Bản N Ng A, xã P Nh, tỉnh Điện B, vắng mặt có lý do.

+ Ông Lò Văn Th, sinh năm 1966; nơi cư trú: Bản N Ng A, xã P Nh, tỉnh Điện B, vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 12/7/2025, Hạng A Th điều khiển xe máy biển kiểm soát 27AA-139.10 chở Hạng A S, sinh ngày 03/02/2011, trú tại Bản Ph L B, xã P Nh, tỉnh Điện B (trước kia là bản Ph L B, xã P Nh, huyện Đ B Đ, tỉnh Điện B) đi từ bản Háng Tr, xã P Nh, tỉnh Điện B sang khu sản xuất của Bản N Ng A, xã P Nh, tỉnh Điện B để tìm lán nương ngủ. Khi đi đến đường bê tông khu sản xuất thuộc Bản N Ng A, xã P Nh, tỉnh Điện B, Th nhìn thấy chiếc xe máy biển kiểm soát 27AA-286.17, trị giá 4.804.000đ, của chị Tòng Thị B, trú tại Bản N Ng A, xã P Nh, tỉnh Điện B, dựng ở lề đường, trên xe vẫn cắm chìa khóa. Quan sát thấy không có ai, Hạng A Th nảy sinh ý định trộm chiếc xe mang đi bán, liền nói với S, “Cháu S ơi, cùng chú đi trộm chiếc xe ven đường để bán lấy tiền”, S nói “Đi thì đi, nếu bán được thì chia đôi tiền”. Th điều khiển xe đi chậm lại, S nhảy xuống đi đến chiếc xe mở khoá điện, nổ máy điều khiển xe đi sau Th được khoảng 01km thì dừng lại. Th bảo S tháo gương và biển kiểm soát của xe, rồi Th lấy chiếc cờ lê trong cốp xe của mình ra tháo biển kiểm soát và cùng S tháo 02 chiếc gương chiếu hậu của xe vứt xuống tà luy âm và bảo S mang xe trộm cắp đi giấu, đợi đến tối mang đi bán. Sau đó, Th đi xe của mình, S đi xe trộm cắp mang đến giấu ở bụi cây ven đường. Sau đó, Th chở S đi chơi ở bản Nậm Ngám B, xã Pu Nhi, tỉnh Điện B. Khoảng 16 giờ cùng ngày, chị B phát hiện bị mất xe nên đã bảo với ông Lò Văn Th, trú tại Bản N Ng A, xã P Nh, tỉnh Điện B đi tìm. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, ông Th phát hiện chiếc xe bị mất trộm của chị B đang giấu ở bụi cây, nên đã gọi anh Lò Văn T đến. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Th chở S quay lại chỗ giấu xe. Th đợi ở ngoài, còn S đi bộ vào để lấy xe thì bị ông Th và anh T đuổi bắt, S bỏ chạy thoát, còn Th bị ông Th và anh T bắt đưa Th cùng xe mô tô trộm cắp về Công an xã Pu Nhi, tỉnh Điện B lập B bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, thì S đến Công an xã Pu Nhi, tỉnh Điện B khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Hạng A S, sinh ngày 03/02/2011, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội được 14 tuổi 05 tháng 09 ngày, nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Ngày 12/8/2025 phòng Cảnh sát Hình sự Công an tỉnh Điện B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 78/QĐ-XPHC, ngày 12/8/2025 đối với Hạng A S, với hình thức Cảnh cáo.

Vật chứng vụ án gồm:

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave s, màu đỏ, trắng đen, không có biển kiểm soát; số máy: JC52E1195275; số khung: RLHJC5264DY197806LHJC, xe cũ đã qua sử dụng.

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, màu sơn: Đỏ, đen; biển kiểm soát: 27AA-139.10 số máy: JA31E0323361; số khung: RLHJA3117EY177258, xe máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy, kèm theo 01 chìa khoá.

- 01 chiếc cờ lê bằng kim loại, dài 12 cm có một đầu cờ lê có số “10”, một đầu cờ lê có số “12”, cờ lê cũ đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 1819/KL- HĐĐGTS ngày 18/7/2025, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Điện B, kết luận:

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, màu đỏ trắng đen, không có biển kiểm soát; số máy: JC52E1195275; số khung: RLHJC5264DY197806, xe cũ đã qua sử dụng, sản xuất năm 2013. Tại thời điểm định giá ngày 12/7/2025, có giá trị là: 4.600.000 đồng (Bốn triệu, sáu trăm nghìn đồng).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 2761/KL- HĐĐGTS ngày 05/9/2025, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Điện B, kết luận:

- 02 chiếc gương chiếu hậu của chiếc xe máy mang nhãn hiệu HONDA Wave S, màu đỏ, trắng đen, biển kiểm soát 27AA-286.17; số máy: JC52E1195275; số khung: RLHJC5264DY197806LHJC, gương cũ đã qua sử dụng. Tại thời điểm định giá tháng 7/2025, có giá trị 52.000đ/1 chiếc, tổng 104.000đ/02 chiếc (Một trăm linh bốn nghìn đồng).

- 01 chiếc biển kiểm soát 27AA-286.17 của chiếc xe máy mang nhãn hiệu HONDA Wave S, màu đỏ, trắng đen, biển kiểm soát 27AA-286.17; số máy: JC52E1195275; số khung: RLHJC5264DY197806LHJC, do Công an xã Pu Nhi cấp ngày 22/4/2025, biển cũ đã qua sử dụng Tại thời điểm định giá tháng 7/2025, có giá trị 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).

Trong quá trình điều tra Bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận của Hội đồng định giá và tại phiên tòa hôm nay Bị cáo cũng không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh, xác định chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, màu đỏ trắng đen, không có biển kiểm soát; số máy: JC52E1195275; số khung: RLHJC5264DY197806, xe cũ đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của chị Tòng Thị B, sinh ngày 05/9/1995, nơi cư trú: Bản N Ng A, xã P Nh, tỉnh Điện B. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện B đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 4648/QĐ-CSHS, ngày 29/8/2024, trả lại chiếc xe máy trên cho chị Tòng Thị B.

Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện B đã điều tra xác minh, xác định chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, màu sơn: Đỏ, đen; biển kiểm soát: 27AA-139.10 số máy: JA31E0323361; số khung: RLHJA3117EY177258, xe máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy, kèm theo 01 chìa khoá mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện B thu giữ của HạngA Th là tài sản hợp pháp của ông Hạng Giống Ch, sinh năm 1969, trú tại Bản Ph L B, xã P Nh, tỉnh Điện B.

Bị hại: Chị Tòng Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt; quá trình điều tra có lời khai thể hiện: Khoảng 15 giờ ngày 12/7/2025, chị (B) đi chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, màu Đỏ Đen Trắng, biển kiểm soát 27AA-286.17 đi làm tại Bản N Ng A, xã P Nh, tỉnh Điện B, chị (B) dựng xe tại ven đường bê tông, thuộc Bản N Ng A, xã P Nh, tỉnh Điện B và không rút chìa khoá xe rồi đi làm. Khoảng 16 giờ cùng ngày, chị (B) quay lại chỗ dựng xe để lấy xe đi về, thì không thấy chiếc xe, chị (B) đi tìm chiếc xe nhưng không thấy. Xác định chiếc xe đã mất trộm, nên chị (B) đã nói với chồng là Lò Văn T và bố chồng là Lò Văn Th. Sau đó chị (B) được biết chồng và bố chồng đã bắt quả tang Hạng A Th, sinh năm 2005, trú tại Bản Ph L B, xã P Nh, tỉnh Điện B là người trộm cắp xe máy của chị và đưa Th đến Công an để giải quyết.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị Tòng Thị B trình bày: Chị đã nhận được giấy Triệu tập tham gia phiên toà ngày 24/9/2025. Tuy nhiên, do yêu cầu công việc, chị không thể tham gia phiên toà, nên chị đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 2 - Điện B xét xử vắng mặt chị. Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, chị đã trình bày toàn bộ ý kiến, giữ nguyên ý kiến và không có thay đổi, bổ sung thêm gì. Về trách nhiệm Hình sự: Đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 2

- Điện B giải quyết bị cáo Hạng A Th theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm Dân sự: Chị đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là chiếc xe máy trên và không yêu cầu bị cáo Hạng A Th bồi thường.

- Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hạng Giống Ch trình bày : Chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, màu sơn: Đỏ, đen; biển kiểm soát: 27AA-139.10 số máy: JA31E0323361; số khung: RLHJA3117EY177258, xe máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy, kèm theo 01 chia khoá, mà Công an thu giữ là tài sản của ông; chiếc xe máy trên ông (Ch) cho con trai Hạng A Th mượn khoảng ngày 10/7/2025, việc Hạng A Th mượn xe vi phạm pháp luật ông không biết, nên làm đơn đề nghị Toà án trả lại chiếc xe cho ông để làm phương tiện đi lại.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Hạng A S có đơn xin xét xử vắng mặt; quá trình điều tra có lời khai thể hiện: Vào khoảng 15 giờ 30 phút, Hạng A Th, sinh năm 2005, trú tại Bản Ph L B, xã P Nh, tỉnh Điện B, sử dụng xe máy HONDA Wave màu đỏ đen, biển kiểm soát 27AA-139.10 chở cháu (S) đi từ bản Háng Tr, xã P Nh, tỉnh Điện B sang khu sản xuất của Bản N Ng A, xã P Nh, tỉnh Điện B tìm lán nương để ngủ. Trên đường đi cháu (S) và Th thấy một xe máy màu đỏ trắng đen, biển kiểm soát 27AA-286.17, không rút chìa khoá để bên lề đường, cháu (S) và Th đi qua chiếc xe máy, đi đến một lán nương thì dừng lại bàn nhau lấy trộm chiếc xe mang đi bán. Sau đó Th chở cháu (S) quay lại, khi đến vị trí chiếc xe máy, thì cháu (S) ngồi sau nhảy xuống lấy xe, còn Th tiếp tục đi thẳng. Cháu (S) lấy được xe máy đuổi theo Th, đi được khoảng 1 km thì Th và cháu (S) dừng xe lại. Th lấy một chiếc cờ lê trong cốp xe máy của Th ra tháo biển số và gương của chiếc xe cháu (S) và Th trộm cắp vứt xuống dưới dốc ta luy âm. Cháu (S) và Th bàn nhau mang xe máy trộm cắp được tìm chỗ giấu, đợi đến tối cháu (S) và Th sẽ mang xe máy đó xuống phường Điện B Phủ đển bán lấy tiền. Rồi Th tự đi xe của Th, còn cháu (S) đi xe máy trộm cắp được đến dấu ở một bụi cây ven đường rẽ đi bản Háng Trợ, xã Pu Nhi, tỉnh Điện B. Sau đó, cháu (S) và Th đi chơi ở bản Nậm Ngám B, xã Pu Nhi, tỉnh Điện B để đợi đến tối mới quay về lấy xe máy trộm được. Đến khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 12/7/2025, Th chở cháu (S) đi lấy xe máy trộm được, đến ngã ba đường rẽ đi bản Háng Trợ, xã Pu Nhi thì Th dừng xe đứng đợi, cháu (S) đi bộ vào lấy xe thì bị hai người đàn ông phát hiện đuổi theo, cháu (S) bỏ chạy, còn Th bị hai người đàn ông giữ lại được. Sau đó đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, cháu (S) ra Cơ quan Công an trình báo.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt HạngA S trình bày: Cháu đã nhận được giấy Triệu tập tham gia phiên toà ngày 24/9/2025. Tuy nhiên, do yêu cầu học tập, cháu không thể tham gia phiên toà, nên cháu đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 2 - Điện B xét xử vắng mặt cháu. Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, cháu (S) đã trình bày toàn bộ ý kiến, hiện tại cháu giữ nguyên ý kiến, không có thay đổi và bổ sung thêm gì. Các vấn đề khác cháu đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 2 - Điện B, xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Những người làm chứng: Ông Lò Văn Th, anh Lò Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt, quá trình điều tra có lời khai thể hiện:

+ Ông Lò Văn Th khai: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 12/7/2025 con dâu ông là Tòng Thị B báo với ông bị mất xe máy, khi để ở khu sản xuất thuộc Bản N Ng A, xã P Nh, tỉnh Điện B, nên ông đã đi tìm. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, ông phát hiện chiếc xe máy của con dâu ông, đang giấu trong bụi, thuộc khu vực bản Háng Trợ, xã Pu Nhi, tỉnh Điện B, lúc này xe đã bị mất biển số xe và 02 gương chiếc hậu, ông nghi ngờ xe bị trộm nên gọi Lò Văn T đến đợi xem ai đã trộm. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày ông và T phát hiện có 02 nam thanh niên đi xe máy xuống. Một thanh niên điều khiển xe thì dừng xe ở ngã ba đường, cách vị trí xe máy bị dấu khoảng hơn 20 mét, nam thanh niên ngồi sau đi bộ xuống vị trí dấu xe máy định lấy xe đi. Ông và T ra để giữ thì nam thanh niên đó bỏ chạy, ông và T đuổi theo giữ được một nam thanh niên dựng xe. Qua hỏi tên, nam thanh niên khai tên là HạngA Th, sinh năm 2005, trú tại Bản Ph L B, xã P Nh, tỉnh Điện B, sau đó ông và T đưa Th cùng đồ vật liên quan đến bàn giao cho Công an xã Pu Nhi.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, ông Lò Văn Th trình bày: Ông đã nhận được giấy Triệu tập tham gia phiên toà ngày 24/9/2025. Tuy nhiên, do yêu cầu công việc, ông không thể tham gia phiên toà, nên ông đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 2 - Điện B xét xử vắng mặt ông. Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, đã trình bày toàn bộ ý kiến và giữ nguyên ý kiến và không có thay đổi, bổ sung thêm gì. Các vấn đề khác ông đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 2 - Điện B giải quyết theo quy định của pháp luật.

+ Anh Lò Văn T khai: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 12/7/2025 anh T đang ở trên nương, thì có bố anh là ông Lò Văn Th gọi điện cho anh, báo tin xe máy của vợ anh mang đi làm nương tại khu sản xuất của bản Nậm Ngám, xã Pu Nhi, tỉnh Điện B bị kẻ gian lấy trộm và đã tìm thấy xe máy của vợ anh tại khu vực đường dân sinh ở bản Háng Trợ, xã Pu Nhi, tỉnh Điện B, bố anh bảo anh xuống cùng để đợi xem người lấy trộm xe máy có đến lấy xe hay không. Sau đó, anh điều khiển xe máy đi xuống khu vực bản Háng Trợ, xã Pu Nhi, nơi chiếc xe của vợ anh bị trộm để đợi. Đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày thì anh và bố anh phát hiện có 02 nam thanh niên đi xe máy xuống. Một thanh niên điều khiển xe thì dừng xe ở ngã ba đường, cách vị trí xe máy bị giấu khoảng hơn 20 mét, nam thanh niên ngồi sau đi bộ xuống vị trí dấu xe máy định lấy xe đi.Anh và bố anh ra để giữ thì nam thanh niên đó bỏ chạy, anh và bố anh đuổi theo giữ được một nam thanh niên dựng xe. Qua hỏi tên, nam thanh niên khai tên là Hạng A Th, sinh năm 2005, trú tại Bản Ph L B, xã P Nh, tỉnh Điện B, sau đó anh và bố anh đưa Th cùng đồ vật liên quan đến bàn giao cho Công an xã Pu Nhi.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, anh Lò Văn T trình bày: Anh đã nhận được giấy Triệu tập tham gia phiên toà ngày 24/9/2025. Tuy nhiên, do yêu cầu công việc, anh không thể tham gia phiên toà, nên anh đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 2 - Điện B xét xử vắng mặt anh. Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, tôi đã trình bày toàn bộ ý kiến và giữ nguyên ý kiến và không có thay đổi, bổ sung thêm gì. Các vấn đề khác ông đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 2 - Điện B giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người đại diện theo pháp luật của cháu Hạng A S: Anh Hạng A D (bố đẻ cháu Hạng A S) có đơn xin xét xử vắng mặt trình bày: Anh đã nhận được giấy Triệu tập tham gia phiên toà ngày 24/9/2025. Tuy nhiên, do yêu cầu công việc, anh không thể tham gia phiên toà, nên anh đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 2 - Điện B xét xử vắng mặt anh. Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, anh đã trình bày toàn bộ ý kiến, hiện tại anh vẫn giữ nguyên ý kiến và không có thay đổi bổ sung thêm gì. Các vấn đề khác đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 2 - Điện B xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 01/QĐ-VKS-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện B truy tố bị cáo Hạng A Th về tội: "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện B giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hạng A Th cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điểm o Khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hạng A Th 09 tháng đến 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ Luật Hình sự; Điểm a Khoản 2; Điểm b Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, màu sơn: Đỏ, đen; biển kiểm soát: 27AA-139.10 số máy: JA31E0323361; số khung: RLHJA3117EY177258, xe máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy, kèm theo 01 chìa khoá cho ông Hạng Giống Ch, sinh năm 1969, trú tại Bản Ph L B, xã P Nh, tỉnh Điện Biên.

- Tịch thu, tiêu huỷ 01 chiếc cờ lê bằng kim loại, dài 12 cm có một đầu cờ lê có số “10”, một đầu cờ lê có số “12”, cờ lê cũ đã qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX vào nghị án. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét về sự vắng mặt của bị hại chị Tòng Thị B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Hạng A S; người đại diện theo pháp luật của cháu Hạng A S ông Hạng A D; người làm chứng anh Lò Văn T, ông Lò Văn Th. Xét thấy bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện theo pháp luật; người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện theo pháp luật; người làm chứng đã có đầy đủ lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án. Nên, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 292; Khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo pháp luật theo quy định của pháp luật.

. Xét hành vi của bị cáo Hạng A Th thấy rằng.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hạng A Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra cũng như lời khai của bị hại, người làm chứng phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: B bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, B bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận định giá tài sản, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 15 giờ ngày 12/7/2025, tại khu vực Bản N Ng A, xã P Nh, tỉnh Điện B, bị cáo đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của chị Tòng Thị B, sinh ngày 05/9/1995, trú tại Bản N Ng A, xã P Nh, tỉnh Điện B 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, màu đỏ, trắng đen, không có biển kiểm soát; số máy: JC52E1195275; số khung: RLHJC5264DY197806LHJC, xe cũ đã qua sử dụng trị giá là: 4.804.000 đồng, mục đích mang đi bán lấy tiền. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tài sản của cá nhân được Nhà nước bảo hộ, gây mất trật tự trị an tại xã Pu Nhi nói riêng, tỉnh Điện B nói chung. Bị cáo Hạng A Th là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:”.

Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện B truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ cần chấp nhận.

. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên, bị cáo đã xúi giục Hạng A S là người dưới 18 tuổi phạm tội, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội”, theo quy định tại Điểm o Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử chấp nhận đề xuất của đại diện Viện kiểm sát, về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục để bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo làm nông nghiệp, không có tài sản, sống phụ thuộc gia đình, nên không có khả năng thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện B đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 4648/QĐ-CSHS, ngày 29/8/2025, trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, màu đỏ, trắng đen, không có biển kiểm soát; số máy: JC52E1195275; số khung: RLHJC5264DY197806, xe cũ đã qua sử dụng cho chị Tòng Thị B, sinh ngày 05/9/1995, nơi cư trú: Bản N NgA, xã P Nh, tỉnh Điện B là chủ sở hữu hợp pháp.

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, màu sơn: Đỏ, đen; biển kiểm soát: 27AA-139.10 số máy: JA31E0323361; số khung: RLHJA3117EY177258, xe máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy, kèm theo 01 chìa khoá. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã làm rõ chiếc xe máy trên là tài sản hợp pháp của ông Hạng Giống Ch, sinh năm 1969, trú tại Bản Ph L B, xã P Nh, tỉnh Điện B. Ông Ch không biết việc bị cáo Hạng A Th mượn xe thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần trả lại chiếc xe máy trên cho ông Hạng Giống Ch theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ Luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu, tiêu huỷ 01 chiếc cờ lê bằng kim loại, dài 12 cm có một đầu cờ lê có số “10”, một đầu cờ lê có số “12”, cờ lê cũ đã qua sử dụng theo quy định Điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ Luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án bị hại chị Tòng Thị B đã nhận lại tài sản bị mất trộm là chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave s, màu đỏ, trắng đen, không có biển kiểm soát; số máy: JC52E1195275; số khung: RLHJC5264DY197806LHJC, xe cũ đã qua sử dụng và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Xét sự thoả thuận của bị hại tự nguyện, không trái với đạo đức xã hội. Nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện trên.

. Các vấn đề khác:

- Đối với Hạng A S, sinh ngày 03/02/2011, là người cùng bị cáo Hạng A Th trộm cắp chiếc xe máy HONDA Wave S, màu đỏ, trắng, đen, biển kiểm soát 27AA-286.17 của chị Tòng Thị B, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội được 14 tuổi 05 tháng 09 ngày, nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự. Ngày 12/8/2025 phòng Cảnh sát Hình sự Công an tỉnh Điện B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 78/QĐ-XPHC, ngày 12/8/2025 với đối Hạng A S, với hình thức Cảnh cáo theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ. HĐXX không xem xét.

- Đối với 02 chiếc gương chiếu hậu của chiếc xe máy mang nhãn hiệu HONDA Wave S, màu đỏ, trắng đen, biển kiểm soát 27AA-286.17; số máy: JC52E1195275; số khung: RLHJC5264DY197806LHJC, gương cũ đã qua sử dụng. Tại thời điểm định giá tháng 7/2025, có giá trị 52.000đ/1 chiếc, tổng 104.000đ/02 chiếc (Một trăm linh bốn nghìn đồng) Cơ quan điều tra không thu giữ được. Quá trình điều tra chị Tòng Thị B không yêu cầu bị cáo bồi thường. HĐXX không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang cư trú nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, HĐXX áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điểm o Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

1. Tuyên bố: bị cáo Hạng A Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hạng A Th 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 13/7/2025).

2. Về vật chứng vụ án: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện B trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, màu đỏ, trắng đen, không có biển kiểm soát; số máy: JC52E1195275; số khung: RLHJC5264DY197806, xe cũ đã qua sử dụng cho chị Tòng Thị B, sinh ngày 05/9/1995, nơi cư trú: Bản N Ng A, xã P Nh, tỉnh Điện B.

- Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ Luật Hình sự; Điểm a Khoản 2; Điểm b Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, màu sơn: Đỏ, đen; biển kiểm soát: 27AA-139.10 số máy: JA31E0323361; số khung: RLHJA3117EY177258, xe máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy, kèm theo 01 chìa khoá cho ông Hạng Giống Ch, sinh năm 1969, trú tại Bản Ph L B, xã P Nh, tỉnh Điện Biên.

- Tịch thu, tiêu huỷ 01 chiếc cờ lê bằng kim loại, dài 12 cm có một đầu cờ lê có số “10”, một đầu cờ lê có số “12”, cờ lê cũ đã qua sử dụng.

Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2, tỉnh Điện B theo B bản giao nhận vật chứng, tài sản vào hồi 15 giờ 50 phút ngày 15/9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện B và Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 2 - Điện B.

3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại chị Tòng Thị B không yêu cầu bị cáo Hạng A Th phải bồi thường gì.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/9/2025). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt quyền; người đại diện theo pháp luật được kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ