vanban.org

Bản án 49/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Mỹ P được ly hôn với anh Đỗ Long H. Về con chung: giao cháu Đỗ Đăng K, sinh ngày 04/8/2009 cho chị Nguyễn Thị Mỹ P tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên, anh Đỗ Long H không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với Đỗ Thị Thùy L, sinh ngày 10/9/2003 đã thành ni… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ P ly hôn Đỗ Long H"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỐT NỐT
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29-4-2025
V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Khúc Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Huỳnh Thị Mỹ Nhung

2/ Bà Lê Cẩm Huỳnh

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 12/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:105/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 115/2025/QĐST- HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 1985 (đề nghị xét xử vắng mặt)

Bị đơn: anh Đỗ Long H, sinh năm 1979 (vắng mặt lần 2 không lý do)

Cùng nơi cư trú: khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày và yêu cầu như sau:

Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Mỹ P và anh Đỗ Long H qua mai mối và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới năm 2002, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ vào ngày 10/5/2024.

C sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh H không quan tâm chăm lo gia đình, kinh tế gia đình do chị tự lo dẫn đến vợ chồng thường cãi nhau làm cho cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Từ tháng 5 năm 2024 bắt đầu sống ly thân với nhau cho đến nay, thời gian đầu sống ly thân chị ra ngoài sống riêng đến tháng 3 năm 2025 quay về nhà chung của vợ chồng sống do anh H đã đi làm xa, có liên hệ hàn gắn tình cảm với nhau nhưng không thể hàn gắn được, hiên tại mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm với ai.

Xác định tình cảm đối với anh H không còn, nên xin ly hôn với anh H.

Về con chung: có 02 con chung Đỗ Thị Thùy L, sinh ngày 10/9/2003 và Đỗ Đăng K, sinh ngày 04/8/2009. Cháu K hiện đang sống chung với chị P, khi ly hôn yêu cầu nuôi dưỡng cháu K đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Đối với Thùy L đã thành niên có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, riêng, nợ: không có, không yêu cầu giải quyết.

Đề nghị vắng mặt trong tất cả các giai đoạn tố tụng tại các cấp Tòa án và đối chất (nếu có).

Bị đơn quá trình giải quyết dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Để giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh H. Tại biên bản xác minh ngày 28/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, địa phương cho biết chị P và anh H là vợ chồng có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống có 02 con chung là Đỗ Thị Thùy L và Đỗ Đăng K. Nguyên nhân ly hôn không rõ. Anh H vẫn còn đăng ký thường trú tại khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Hiện nay anh H đã đi làm xa và có quay về địa phương.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Mỹ P được ly hôn với anh Đỗ Long H. Về con chung: có 02 con chung Đỗ Thị Thùy L, sinh ngày 10/9/2003 và Đỗ Đăng K, sinh ngày 04/8/2009. Giao cháu K cho chị P nuôi dưỡng đến khi thành nên, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con, cháu L đã thành niên và có khả năng lao động, nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: đương sự phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

[1] Về tố tụng: theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đây là vụ án về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn có nơi cư trú tại: khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn đề nghị vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Mỹ P và anh Đỗ Long H là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Về nguyên nhân dẫn đến ly hôn chị P cho rằng do bất đồng quan điểm sống và anh H không quan tâm chăm lo gia đình, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh H nhiều lần để tham gia tố tụng về yêu cầu xin ly hôn của chị P, nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu của chị P. Cho thấy, anh H không có thiện chí để đoàn tụ, bỏ mặc hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung đã không còn tồn tại vì đã ly thân, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị P được ly hôn với anh H.

Về con: theo lời khai của chị P và kết quả xác minh của Tòa án, chị P và anh H có 02 con chung là Đỗ Thị Thùy L, sinh ngày 10/9/2003 và Đỗ Đăng K, sinh ngày 04/8/2009. Chị P có yêu cầu được nuôi dưỡng cháu K đến khi thành niên. Cháu K đã trên 7 tuổi, có nguyện vọng được sống với chị P và hiện nay chị P là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu K. Do đó, cần tiếp tục giao cháu K cho chị P nuôi dưỡng là phù hợp. Cháu L đã thành niên có năng lực hành vi dân sự nên không xem xét giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Đương sự không yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết.

Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: nguyên đơn phải chịu theo quy định.

Lời phát biểu của kiểm sát viên về phần thủ tục tố tụng, cũng như đề xuất ý kiến về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định và quyết định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, 227, 228, Điều 235, 238, 254, 262, 264, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 51, 53, 56, 57, 59, 69, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Mỹ P được ly hôn với anh Đỗ Long H.

Về con chung: giao cháu Đỗ Đăng K, sinh ngày 04/8/2009 cho chị Nguyễn Thị Mỹ P tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên, anh Đỗ Long H không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với Đỗ Thị Thùy L, sinh ngày 10/9/2003 đã thành niên có năng lực hành vi dân sự nên không xem xét giải quyết.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh Đỗ Long H, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Mỹ P phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được chuyển từ số tiền tạm ứng án phí sang án phí đã nộp theo biên lai số 0005928 ngày 08/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Về quyền kháng cáo: đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Cỡ chữ