- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà L yêu cầu ly hôn vơi ông L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lý Thị L. Bà Lý Thị L được ly hôn với ông Tô Đình L.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24-9-2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Công Gia và bà Trần Thị Yến Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Lại Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Đồng Nai, xét xử công khai vụ án thụ lý số 316/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Lý Thị L– sinh năm 1973
Nơi cư trú: ấp T, xã P (xã Phú Xuân, huyện Tân Phú cũ), tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: ông Tô Đình L – sinh năm 1966
Nơi cư trú: ấp Thanh Thọ, xã Tân Phú (xã Phú Xuân, huyện Tân Phú cũ), tỉnh Đồng Nai.
(bà L vắng mặt có đơn xin vắng mặt, ông L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/06/2025; lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn bà Lý Thị L trình bày:
Về hôn nhân: bà và ông L tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Bình, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (nay là xã Phú Lâm, tỉnh Đồng Nai) ngày 25/01/1995 và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 01/1995. Sau thời gian chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn tiếng nói chung, không thông cảm thấu hiểu, không tôn trọng nhau, cách sống vợ chồng không hợp nhau dẫn đến giằng co, cãi vã, ông L đánh đập bà L.Vợ chồng đã ly thân từ tháng 02/2025. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Tô Đình Long.
Về con chung: bà L và ông L có 04 người con chung là Tô Đức Tr - sinh năm 1995; Tô Đức Ch - sinh năm 1997; Tô Ngọc Nh - sinh năm 2001; Tô Đức V - sinh ngày 20/3/2010. Khi ly hôn bà L giao cháu Vũ cho ông L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà L cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng, kể từ tháng 7/2025 đến khi cháu V trưởng thành. Hiện tại cháu Vũ đang sinh sống cùng ông Long. Đối với các con chung Trọng, Chiến, Nhi đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của bị đơn ông Tô Đình L: Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa ông L đều vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của đương sự, thẩm quyền thụ lý của Tòa án, thủ tục thu thập chứng cứ đúng quy định; quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục cấp tống đạt cho các đương sự đảm bảo theo quy định pháp luật. Các quyền nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo thực hiện. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật nên Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị gì.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà L, cho bà Lý Thị L được ly hôn với ông Tô Đình L.
- Về con chung: Giao con chung là Tô Đức V - sinh ngày 20/3/2010 cho ông L nuôi dưỡng, bà L cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng số tiền 1.000.000 đồng, kể từ tháng 7/2025 đến khi cháu Vũ trưởng thành.
- Về tài sản, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà L phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng cho con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: bị đơn ông Tô Thành L cư trú tại xã Tân Phú (xã Phú Xuân, huyện Tân Phú cũ), tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Đồng Nai theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: bà L yêu cầu khởi kiện ly hôn tranh chấp nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về xác định tư cách đương sự: bà Lý Thị L là nguyên đơn; ông Tô Đình L là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà L và ông L nhưng bà L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, ông L vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: bà L, ông L tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Bình, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (nay là xã Phú Lâm, tỉnh Đồng Nai) ngày 25/01/1995. Vì vậy, hôn nhân giữa bà L, ông L là hôn nhân hợp pháp được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Đời sống hôn nhân của bà L, ông L phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm và ông L có đánh đập bà L. Hiện nay bà L, ông L đã không còn sống chung với nhau, vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Từ những lý do nêu trên, xác định được bà L, ông L trong quá trình sống chung đã không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình; làm cho hôn nhân L vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình thì yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông L là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Xét thấy từ khi bà L, ông L không còn sống chung thì con chung do ông L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, bà L tự nguyện giao cháu Vũ cho ông L nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.000.000đ/tháng. Ngoài ra, cháu Vũ có nguyện vọng sống chung với ông Long. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Tô Đức V - sinh ngày 20/3/2010 cho ông L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục,
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của bà L, bà L cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng số tiền 1.000.000 đồng, kể từ tháng 7/2025 đến khi cháu Vũ trưởng thành. Bà L có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Đối với các Tô Đức Tr - sinh năm 1995; Tô Đức Ch - sinh năm 1997; Tô Ngọc Nh - sinh năm 2001 đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
Về án phí: Bà Lý Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 68, 147, 207, 220, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 40 Luật hôn nhân gia đình năm 1986;
Các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84, 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lý Thị L. Bà Lý Thị L được ly hôn với ông Tô Đình L.
- Về con chung: giao cháu Tô Đức V - sinh ngày 20/3/2010 cho ông L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, bà L cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng số tiền 1.000.000 đồng, kể từ tháng 7/2025 đến khi cháu Vũ trưởng thành. Bà L có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Đối với các cháu Tô Đức Tr - sinh năm 1995; Tô Đức Ch - sinh năm 1997; Tô Ngọc Nh - sinh năm 2001 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản và nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
- Về án phí: Bà Lý Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng cho con. Được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà L đã nộp theo biên lai số 0020830 ngày 19/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 – Đồng Nai, Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai). Bà L còn phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về nghĩa cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực 8; - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã Phú Lâm (để ghi vào sổ hộ tịch) - Lưu hồ sơ, án văn. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tuấn THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |