- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị K và anh D"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim K.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/05/2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Việt
Bà Nguyễn Thị Kim Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 05 năm 2025, tại Hội trường B - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 318/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 03 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 04 năm 2025 và quyết định Hoãn phiên tòa số 56/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06/05/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim K, sinh năm: 1997.
Địa chỉ: Ấp I, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu D, sinh năm: 1994.
Nơi thường trú: Tổ C, ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Nơi ở hiện nay: Nhà trọ ông H, ấp I, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 17/03/2025, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim K trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở tự nguyện, chị K và anh D qua thời gian quen biết đã tự nguyện tiến tới hôn nhân, anh chị đã đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 190 ngày 07/10/2022.
Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống cùng với gia đình bên nội, cuộc sống bình thường. Sau khi sanh con thì hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh D đi làm công ty, ít về nhà, không quan tâm gì đến vợ con. Sau đó, chị K phát hiện anh D làm ăn gì đó ở bên ngoài bị thua lỗ dẫn đến nợ nần, chị K được biết anh D đã bị người ta khởi kiện về việc anh D vay tiền đến TAND huyện Thống Nhất giải quyết. Anh D tính hay nóng giận, đôi khi không kiểm soát được lời nói và hành động thì lại hăm dọa chị K và nói những lời rất khó nghe. Anh D sống không có trách nhiệm với gia đình nên chị K đã cùng con trở về nhà ngoại sinh sống từ năm 2024 cho đến nay. Trong quá trình sống ly thân, cả hai vợ chồng cũng không quan tâm hay hỏi han gì đến nhau. Lâu lâu anh D có gọi điện để hỏi thăm con cái một chút rồi thôi. Đến nay, chị K xác định tình cảm không còn, vợ chồng không thể hòa giải, đoàn tụ được do mâu thuẫn đã quá trầm trọng nên chị K yêu cầu được ly hôn với anh D.
- Về con chung: Vợ chồng chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày: 12/02/2023. Khi ly hôn chị K yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu H1. Chị K không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị K đang làm công nhân, lương tháng khoảng 10.000.000đ/tháng, đủ khả năng để nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết, bị đơn anh Nguyễn Hữu D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng anh D không đến Tòa án làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim K được ly hôn với anh Nguyễn Hữu D.
+ Về con chung: Giao con chung cho chị K trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không có tranh chấp nên không đặt ra xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Buộc chị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Anh Nguyễn Hữu D có đăng ký lưu trú và sinh sống tại: Nhà trọ ông H thuộc ấp I, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Kim K có yêu cầu ly hôn và tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chung với bị đơn - anh Nguyễn Hữu D. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
[1.3] Về tư cách đương sự: Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xác định chị Nguyễn Thị Kim K là nguyên đơn, anh Nguyễn Hữu D là bị đơn.
Về việc xét xử vắng mặt các đương sự:
- Ngày 21/04/2025, chị K có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.
- Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh D, thông báo cho anh D biết thời gian mở lại phiên tòa. Tại phiên tòa, anh D tiếp tục vắng mặt lần thứ 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt anh D.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim K và anh Nguyễn Hữu D xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 190 ngày 07/10/2022 đáp ứng điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên xác định hôn nhân giữa chị K và anh D là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Qua trình bày của đương sự, trong quá trình giải quyết vụ án cho thấy sau khi kết hôn một thời gian, cuộc sống chung của vợ chồng chị K và anh D đã xảy ra mâu thuẫn. Trong cuộc sống chung vợ chồng, anh chị đã thiếu sự tin tưởng, yêu thương và tôn trọng lẫn nhau, thường xuyên xảy ra sự bất hòa. Nguyên nhân chủ yếu là do anh D thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình với chị K dẫn đến tình cảm vợ chồng dần phai nhạt. Chị K cho rằng anh D ham chơi, nợ nần, sống không lo cho vợ con vì từ thời gian sống ly thân khoảng một năm nay thì anh D đã không còn quan tâm, hỏi han hay hỗ trợ kinh tế để chị K nuôi con chung. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh D đến tòa tham gia giải quyết, hòa giải đoàn tụ cùng chị K nhưng anh D không hợp tác. Điều đó cho thấy anh D không có thiện chí muốn hòa giải cùng với chị K để xây dựng hạnh phúc gia đình.
Theo biên bản xác minh ngày 05/04/2025, địa phương cho biết: “ ... hiện nay anh chị đã sống ly thân, không sống chung cùng nhau ...”.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị K và anh D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị K là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày: 12/02/2023.
Xét yêu cầu của nguyên đơn: Chị K yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu H1. Xét thấy, hiện con chung dưới 36 tháng tuổi và đang sống cùng với chị K. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao con chung cho chị K được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng: Tạm thời anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị K không có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất: Về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim K.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kim K và anh Nguyễn Hữu D được ly hôn.
2. Về con chung:
2.1. Giao cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày: 12/02/2023 cho chị Nguyễn Thị Kim K được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
2.2. Anh Nguyễn Hữu D được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
2.3. Về cấp dưỡng: Tạm thời anh Nguyễn Hữu D không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Kim K không yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim K phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0008648 ngày 17 tháng 03 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Chị Nguyễn Thị Kim K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Thống Nhất; - CC THADS huyện Thống Nhất; - UBND xã Xuân Bắc, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (GNCKH số 190/2022); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Thị Tuyết Hạnh |