- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị B.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST Ngày: 05/12/2025 V/v: Kiện ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Ngọc Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Oanh.
Bà Nguyễn Thị Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Vịnh – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Nguyên – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại phòng xử án, Toà án nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 205/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2025/QĐST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị B, sinh năm 2002. Nơi thường trú: Buôn Jăt B, xã Ea Phê, tỉnh Đắk Lắk, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Ai N, sinh năm 1994. Nơi thường trú: Buôn Jăt B, xã Ea Phê, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị B trình bày: Tôi và anh Ai N chung sống với nhau tự nguyện vào năm 2017, đến năm 2020 chúng tôi mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh A thường xuyên uống rượu, đánh đập tôi, không chăm lo cho cuộc sống gia đình. Gia đình hai bên đã khuyên can nhiều lần nhưng anh A không thay đổi. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay nhận thấy mâu thuẫn kéo dài, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên tôi làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Ai N.
Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi có hai con chung là cháu Mó Hương T, sinh ngày 09/9/2022 và cháu Ai N, sinh ngày 04/6/2017. Hiện cháu Mó Hương T ở với tôi, còn cháu Ai N ở với ai Ai N. Nay ly hôn tôi có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Mó Hương T đến tuổi trưởng thành; giao cháu Ai N cho anh Ai N chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: Chúng tôi không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Ai N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không có lý do.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk:
Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.
Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 BLTTDS; khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình – Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị B; Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Bu được ly hôn với anh Ai N; Về con chung: Giao con chung là cháu Mó Hương Thảo, sinh ngày 09/9/2022 cho chị Hồ Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Mó Hương T đủ 18 tuổi; giao cháu Ai N, sinh ngày 04/6/2017 cho anh Ai N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Ai N đủ 18 tuổi; về cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị B không yêu cầu Tòa án giả quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị B đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với anh Ai N là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do. Vì vậy, HĐXX xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị B và anh Ai N chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ea H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk) theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 47 ngày 23/6/2020. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Qua lời trình bày của chị Hồ Thị B thì nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do anh Ai N thường xuyên uống rượu, đánh đập chị B, không chăm lo cho cuộc sống gia đình, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023. Nay chị B xác định cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ai N. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Ai N nhưng bị đơn đều vắng mặt tại các buổi làm việc, không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn. Qua xác minh tại chính quyền địa phương, quá trình chung sống vợ chồng chị Hồ Thị B và anh Ai N có mâu thuẫn.
Hội đồng xét xử xét thấy, giữa các bên không còn sự tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng; mâu thuẫn xảy ra trong thời gian dài; mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị B, cho chị Hồ Thị B được ly hôn với anh Ai N.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Hồ Thị B và anh Ai N có hai con chung là cháu Mó Hương T, sinh ngày 09/9/2022 và cháu Ai N, sinh ngày 04/6/2017. Hiện cháu Ai N đang sinh sống cùng với anh Ai N; cháu Mó Hương T đang sinh sống cùng với chị Hồ Thị B; chị Hồ Thị B có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T đến tuổi trưởng thành. Do đó, để đảm bảo tâm lý, điều kiện học hành và sinh hoạt của các con chung, HĐXX giao cháu Mó Hương T cho chị Hồ Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Mó Hương T đủ 18 tuổi; giao cháu Ai N cho anh Ai N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Ai N đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hồ Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Chị Hồ Thị B và anh Ai N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Tuy nhiên, chị Hồ Thị B và anh Ai N không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
Về tài sản chung; nợ chung: Chị Hồ Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị Hồ Thị B là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Trong quá trình giải quyết vụ án, hồ sơ thể hiện tại thời điểm chị Hồ Thị B mang thai cháu Ai N, sinh ngày 04/6/2017 thì chị B chưa đủ 16 tuổi. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk đã chuyển thông tin và các tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk để xác minh, giải quyết theo thẩm quyền.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị B.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị B được ly hôn với anh Ai N.
- Về con chung: Giao cháu Mó Hương T, sinh ngày 09/9/2022 cho chị Hồ Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Mó Hương T đủ 18 tuổi; giao cháu Ai N, sinh ngày 04/6/2017 cho anh Ai N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Ai N đủ 18 tuổi.
Chị Hồ Thị B và anh Ai N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Tuy nhiên, chị Hồ Thị B và anh Ai N không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hồ Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung; nợ chung: Chị Hồ Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Chị Hồ Thị B là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 4 – Đắk Lắk; - Phòng THADS khu vực 4 – Đắk Lắk; - UBND xã E; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Thị Lan LÝ Viết Chấn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lưu Thị Ngọc Thủy 3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Ngọc Thủy |