vanban.org

Bản án 49/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 25/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lỳ Khò S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lỳ Khò S 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lỳ Khò S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lỳ Khò S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST
Ngày: 25/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lý Ngọc Sáng, Bà Lý Thị The.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn- Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên toà: Ông Võ Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 3 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST- HS, ngày 13 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Lỳ Khò S- sinh năm 1993, tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT: Bản T, xã T, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Hà Nhì; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Bố đẻ: Lỳ Già L, sinh năm 1956, mẹ đẻ: Lỳ Na X, sinh năm 1963; Bị cáo có vợ: Sừng Xú M, sinh năm 1990 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/12/2023 tại nhà tạm giữ Công an huyện Mờng Tè, tỉnh Lai Châu đến nay. (có mặt tại điểm cầu nhà tạm giữ).

Bị hại:

Bà Lỳ Gió P, sinh năm 1948.

Địa chỉ: Bản T, xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. (đã chết).

Người đại diện của bị hại: Chị Toán Xú T, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Bản T, xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lù Phì A, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Khu phố 7, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Có đơn xin vắng mặt.

2. Sừng Xú M, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Có đơn xin vắng mặt.

Người làm chứng: Bà Vũ Thị O, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Khu phố 12, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt không lý do.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Nga- Trợ giúp viên thuộc Trung tâm Trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu (có mặt tại điểm cầu thành phần).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 13/11/2023, Lỳ Khò S, sinh năm 1993, một mình điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu xám đen, biển kiểm soát 25M1-140.52 (chiếc xe là tài sản chung của S và vợ là Sùng Xú M) đi từ bản Xi Nế, xã Mù Cả, huyện Mường Tè đến bản Là Ú Cò, xã Ka Lăng, huyện Mường Tè để thăm vợ của S. Trên đường đi, S nhặt được một đoạn dây cáp mạng màu đen dài khoảng 07 mét. Khi đi đến đoạn đường thuộc bản T, xã Mù Cả (đoạn đường gần ban quản lý dự án thuỷ điện Pắc Ma), S nhìn thấy có một đàn bò đang nằm ngủ tại một bãi đất trống bên cạnh đường nên đã nảy sinh ý định bắt trộm bò, xẻ thịt đem đi bán lấy tiền. S sử dụng đoạn dây cáp mạng đã nhặt được trước đó, buộc thành vòng tròn để làm bẫy và đặt bẫy vào giữa một lối mòn đi lại. Sau đó, S đuổi đàn bò đi vào vị trí đã đặt bẫy thì có một con bò cái, lông màu nâu đỏ (thuộc sở hữu của bà Lỳ Gió P, sinh năm 1948, trú tại bản T, xã Mù Cả) mắc cổ vào vòng tròn dây cáp mà S đã đặt trước đó. S siết chặt vòng tròn dây cáp vào cổ con bò rồi buộc đầu dây cáp còn lại vào bụi cây gần đó. S nhặt một hòn đá cạnh đó, đập vào đầu con bò hai phát làm con bò ngã xuống đất. Sau đó, S điều khiển xe máy đi tìm bao tải về để đựng thịt bò sau khi xẻ thịt. S điều khiển xe máy đi đến đầu cầu Pắc Ma, thuộc bản Pắc Ma, xã Mường Tè thì nhặt được một bao tải màu cam nên đã cầm bao tải quay lại chỗ con bò mắc bẫy đang nằm. Sau khi quay lại, S ngồi đợi một lúc thì con bò chết. S sử dụng một cái đèn pin và 01 con dao bầu có sẵn trong cốp xe máy để soi sáng và xẻ thịt con bò. S dùng dao xẻ phần thịt của 04 đùi và phần thịt thăn của con bò rồi dùng 01 chiếc cân móc mi ni có sẵn trong cốp xe máy để cân thì thấy được 24 kg. Số thịt, xương, nội tạng còn lại của con bò, S không lấy mà vứt lại tại đó. Sau đó, S cho số thịt bò đã xẻ được vào trong bao tải rồi đặt lên yên xe máy chở đến thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè để bán lấy tiền. Khi đi ngang qua cầu Pắc Ma, S đã ném đoạn dây cáp xuống sông. Đến cầu Nậm Pặm thuộc bản Pắc Ma, xã Mường Tè, S dừng xe lại, đem con dao bầu giấu vào bụi cây cạnh đường rồi tiếp tục điều khiển xe máy đi xuống thị trấn Mường Tè. Khoảng 06 giờ sáng ngày 14/11/2023, sau khi đi đến khu phố 7, thị trấn Mường Tè, S đặt số thịt bò xuống đất và ngồi bên lề đường gần quầy bán thịt lợn của chị Vũ Thị O (đối diện cổng trường THPT Mường Tè) để bán thịt bò cho những người qua đường với giá 160.000 đồng/01kg, trong đó: S có bán cho chị Lù Phì A, sinh năm 1973, trú tại khu phố 7, thị trấn Mường Tè 2,4 kg thịt bò với giá 370.000 đồng. Quá trình bán thịt bò, S luôn đội chiếc mũ bảo hiểm xe máy, màu đen, loại mũ trùm kín đầu để tránh người quen nhận ra. Sau khi bán hết thịt bò, S cất chiếc cân móc mi ni vào trong cốp xe rồi điều khiển xe máy đi về nhà và tiêu xài hết số tiền do bán thịt bò mà có.

Sáng ngày 14/11/2023, phát hiện không thấy con bò cái đi về chuồng nên anh Khoảng Lèn Tư và chị Toán Xú T (con gái và con rể của bà P) đã đi tìm kiếm và đến sáng ngày 16/11/2023 thì phát hiện xác con bò đã bốc mùi hôi thối tại vị trí nêu trên nên đã trình báo với công an xã Mù Cả,

Sau khi tiếp nhận, Công an xã Mù Cả đã chuyển tin báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Tè để giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết tin báo, qua điều tra, xác minh, Cơ quan điều tra đã mời Lỳ Khò S đến để làm việc và S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã mô tả ở trên.

Tại bản kết luận định giá số 28 ngày 07/12/2023 của Hội đồng định giá UBND huyện Mường Tè kết luận: 01 còn bò cái, lông màu nâu đỏ mà Lỳ Khò S đã trộm cắp trị giá 17.100.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 09/CT- VKS-MT ngày 12/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố Lỳ Khò S về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên Tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lỳ Khò S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện bị hại: Bị cáo phải trả cho đại diện bị hại số tiền 20.000.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lù Phì A không yêu cầu gì nên không đề nghị giải quyết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Sừng Xú M có đơn xin lại chiếc xe máy. Đề nghị Hội đồng xét xử không nhất trí vì chiếc xe là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước.

Vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại, có tổng chiều dài là 32 cm, cán dao làm bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại đã bị gãy mũi; 01 chiếc cân móc mini loại 05kg; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu Royal màu đen, loại mũ trùm kín đầu.

Đề nghị tịch thu bán sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu xám đen, biển kiểm soát 25M1-140.52.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Đề nghị truy thu số tiền 3.826.000 đồng đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng, nội dung bản luận tội. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo mức án phù hợp của khung hình phạt và xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Đề nghị trả lại cho gia đình bị cáo chiếc xe máy vì đây là tài sản chung của gia đình bị cáo.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát và không đề nghị gì.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Mường Tè, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia phiên tòa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, đơn trình báo, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ, ngày 13/11/2023, tại khu vực bản Tó Khỏ, xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Lỳ Khò S đã trộm cắp 01 bò cái, lông màu nâu đỏ trị giá 17.100.000 đồng của bà Lỳ Gió P để xẻ thịt đem đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt và xử lý vật chứng là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận.

Người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án phù hợp của khung hình phạt trong khoảng đề nghị của Viện kiểm sát nên và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự giá ngạch, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với đề nghị trả lại chiếc xe máy cho gia đình bị cáo Hội đồng xét xử không chấp nhận vì đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Theo lời khai của bị cáo thì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản để đảm bảo thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng chẵn). Tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường số tiền trên theo yêu cầu của đại diện bị hại. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và các Điều 357; 468; 584; 585; 586; 589 Bộ luật dân sự. Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự ghi nhận sự tự thỏa thuận này.

Đối với số tiền bị cáo đã bán thịt bò mà có với tổng số tiền 3.826.000 đồng, bị cáo đã dùng vào việc chi tiêu cá nhân và gia đình bị cáo khó khăn, không có điều kiện thi hành án, ngoài ra bị cáo phải bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng chẵn). Nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải truy thu số tiền 3.826.000 đồng đối với bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Sừng Xú M đề nghị được xin lại chiếc xe máy: Hội đồng xét xử nhận định chiếc xe do bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước. Bị cáo có trách nhiệm trả lại 1/2 giá trị tài sản cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khi có yêu cầu giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lù Phì A có đơn xin vắng mặt và không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 con dao bằng kim loại, có tổng chiều dài là 32 cm, cán dao làm bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại đã bị gãy mũi; 01 chiếc cân móc mini loại 05kg; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu Royal màu đen, loại mũ trùm kín đầu. Các vật chứng trên bị cáo đã dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu xám đen, biển kiểm soát 25M1-140.52. Quá trình điều tra đã xác định chiếc xe là công cụ dùng để phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Các tình tiết liên quan đến vụ án:

+ Đối với bà Lù Phì A: Khi mua thịt bò do bị cáo Lỳ Khò S bán, bà Lù Phì A không biết số thịt bò đó do bị cáo trộm cắp mà có nên bà Lù Phì A không phạm tội tiêu thụ tải sản do người khác phạm tội mà có quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.

+ Đối với những người khác đã mua thịt bò của bị cáo. Cơ quan điều tra không xác định được những người này là ai nên không thể xem xét, xử lý. Hội đồng xét xử khong đề cập giải quyết.

+ Đối với Sừng Xú M (vợ của bị cáo): Do M không biết bị cáo sử dụng chiếc xe máy để thực hiện hành vi phạm tội nên chị M không đồng phạm với bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản".

Về án phí: Căn cứ Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, tại phiên tòa bị cáo đề nghị được miễn án phí hình sự sơ thẩm và miễn án phí dân sự. Nên Hội đồng xét xử cần miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 48; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 357; 468; 584; 585; 586; 589 Bộ luật dân sự. Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lỳ Khò S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lỳ Khò S 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Miễn truy thu số tiền 3.826.000 đồng đối với bị cáo.

2. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại, có tổng chiều dài là 32 cm, cán dao làm bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại đã bị gãy mũi; 01 chiếc cân móc mini loại 05kg; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu Royal màu đen, loại mũ trùm kín đầu.

Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu xám đen, biển kiểm soát 25M1-140.52.

(Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Tè và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 14/3/2024).

3. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện bị hại: Bị cáo phải trả cho đại diện bị hại chị Toán Xú T số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng chẵn). Khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày người có quyền được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở UBND thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu./.

Cỡ chữ