vanban.org

Bản án 49/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 01/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Thạch H phạm tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Thạch H 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2023. Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thạch H phạm tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 49/2024/HS-ST
Ngày 01-02-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: bà Phan Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân: ông Trịnh Văn Lực và ông Nguyễn Văn Hoàn

- Thư ký phiên toà: ông Phạm Anh Ly, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: ông Lê Thanh Tùng, Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 23/01/2024 đối với bị cáo:

Thạch H, sinh năm 1990 tại tỉnh Trà Vinh; thƣờng trú: ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: nam; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: phụ hồ; con ông Thạch R, sinh năm 1954 và bà Thạch Thị M, sinh năm 1959; có 01 chị sinh năm 1989; chƣa vợ con; tiền sự, tiền án: không; tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2023. Có mặt.

- Bị hại: anh Ngô Tuấn K, sinh năm 1983; thƣờng trú: số A khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 29/10/2023, Thạch H điều khiển xe mô tô biển số 61L1-5450 trên đƣờng T, thành phố D thì bị Công an phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng kiểm tra. Do không có giấy tờ xe nên bị Công an phƣờng T, thành phố D lập biên bản tạm giữ xe. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 30/10/2023, H đi bộ đến Công an phƣờng T để xin xe mô tô. Tuy nhiên, xe không có giấy tờ nên Công an phƣờng T không trả xe nên H đi bộ về nhà. Trên đƣờng đi về đến gần ngã ba C thuộc phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, H ghé vào tiệm tạp hóa mua 01 lít rƣợu, xong ra lề đƣờng ngồi uống một mình. Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, H đi về. Khi đang đi bộ trên đƣờng L, khu phố C, phƣờng T, thành phố D, H nhìn thấy xe mô tô biển số 61D1-804.38 của anh Ngô Tuân K1 dựng trƣớc cửa nhà số B, đƣờng L, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. H đến gần thấy trên xe mô tô có cắm sẵn chìa khóa, xung quanh không có ngƣời trông coi nên dùng tay mở khóa xe, ngồi lên xe nổ máy và điều khiển xe chạy về hƣớng ngã tƣ C, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Sau đó, H chạy về đƣờng N, khu phố C, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng mua rƣợu và trái cây ngồi uống một mình tại vỉa hè đƣờng N, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, dựng xe kế bên. Đến 19 giờ 30 phút ngày 30/10/2023, anh Ngô Tuấn K đến Công an phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng trình báo sự việc.

Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, khi H đang ngồi uống rƣợu tại vỉa hè đƣờng N, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng thì bị cơ quan Công an phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng phát hiện bắt giữ và đƣa về làm việc. Tại đây, Thạch H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo kết luận định giá tài sản số 192/KLĐGTS ngày 07/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên thành phố D kết luận: xe mô tô 02 bánh nhãn hiệu Honda, loại Wave RS màu xanh, biển số 61D1-804.38, số máy JC43E0056646, số khung RLHJC43089Y048665 giá trị 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).

Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RS màu xanh biển số 61D1-804.38.

Tại cáo trạng số 59/CT-VKS-DA ngày 23 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Thạch H về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Thạch H mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Xử lý vật chứng: đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RS màu xanh biển số 61D1-804.38, số máy JC43E0056646, số khung RLHJC43089Y048665, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đã trả lại xe mô tô cho anh Ngô Tuấn K là chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: anh Ngô Tuấn K đã nhận lại xe mô tô, biển số 61D1-804.38, số máy JC43E005646, số khung RLHJ43089Y048665 nên không yêu cầu Thạch H phải bồi thƣờng gì thêm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận đối đáp gì. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, bị hại không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình tố tụng, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 30/10/2023, trƣớc cửa nhà số B, trên đƣờng L, khu phố C, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Thạch H đã lén lút chiếm đoạt xe mô tô hiệu WAVE RS số loại Honda biển số 61D1-804.38 trị giá 6.000.000 đồng của anh Ngô Tuấn K. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 59/CT-VKS-DA ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi, trả lại cho bị hại quy định tại điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động, chƣa có tiền án, tiền sự.

Trách nhiệm dân sự: tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WAVE RS biển số 61D1-804.38 trị giá 6.000.000 đồng. Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Hình phạt chính: từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng là chƣa phù hợp.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Thạch H phạm tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Thạch H 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2023.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Thạch H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ