vanban.org

Bản án 49/2024/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Bùi Thanh H, Trương Thanh S ph m tội “Gi t người” thuộc trường hợp chưa đ t; bị cáo Trần Trung T ph m tội “Gây rối trật t công cộng”.

Áp d ng điểm n khoản 1 Điều 123, Điều 15, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017); X ph t bị cáo Bùi Thanh H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày 05/9/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Bùi Thanh H, Trương Thanh S ph m tội “Gi t người” thuộc trường hợp chưa đ t; bị cáo Trần Trung T ph m tội “Gây rối trật t công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 298 Bộ luật Tố t ng hình s; Điều 299 Bộ luật Tố t ng hình s; Điều 326 Bộ luật Tố t ng hình s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST
Ngày 26-4-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trương Văn Lộc.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Mỹ;

Bà Đoàn Kim Bình;

Ông Nguyễn Thanh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tường – Thư k Tòa án nh n d n t nh Bình Dương.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân t nh nh Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, t i Tòa án nh n d n t nh Bình Dương x t x sơ th m c ng khai v án hình s sơ th m th l số: 18/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 theo uy t định đưa v án ra x t x số: 38/2024 Đ T-H ngày 20/3/2024 đối với các bị cáo:

1. Bùi Thanh H sinh ngày 28/02/2002 t i t nh Bình Dương; nơi cư trú: số W, tổ J, khu phố W1, phường A, thành phố Th, t nh Bình Dương; nghề nghiệp: sinh viên; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn P và bà Trần Thị Mỹ H1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền s : không; bị cáo bị bắt t m giam từ ngày 05/9/2022 cho đ n nay, có mặt.

2. Trương Thanh S sinh năm 1993 t i t nh Bình Dương; nơi cư trú: số nhà F đường S1, tổ T2, khu phố F1, phường A, thành phố Th, t nh Bình Dương; nghề nghiệp: lao động t do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ng Trương uang Th1 và bà Hồ Kim A1; bị cáo có vợ và có 02 người con; tiền án, tiền s : không; nhân thân: ngày 26/6/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố X, t nh Bình Dương x ph t 34 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” t i Bản án hình s sơ th m số: 134/2012/HS- T (đã xóa án tích); ngày 27/9/2022, bị cáo đầu thú và bị áp d ng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đ n nay, có mặt.

3. Trần Trung T sinh năm 1998 t i t nh Bình Dương; nơi cư trú: số nhà W1 đường E, tổ J1, khu phố F1, phường A, thành phố Th, t nh Bình Dương; nghề nghiệp: lao động t do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Văn Ng và bà Đặng Thị Thanh L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền s : không; ngày 27 12 2023, bị khởi tố và áp d ng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đ n nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thanh H: Ông Nguyễn Phước L1, Luật sư C ng ty Luật TNHH Ng1 – Đoàn Luật sư t nh Bình Dương, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trương Thanh S: Ông Lê Th Z, Luật sư Văn phòng Luật sư Y – Đoàn Luật sư t nh Bình Dương, có mặt.

- Bị hại: Ông Trần Quốc T1, sinh ngày 18 4 2004, nơi thường trú: số nhà E1, khu phố X1, phường Ng2, thành phố Th, t nh Bình Dương, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1.Ông Bùi Văn P, sinh năm 1975, nơi thường trú: số nhà W, tổ J, khu phố W1, phường A, thành phố Th, t nh Bình Dương, có mặt.

2. Ông Trương Thanh P1, sinh năm 1985, nơi thường trú: số nhà F, đường S1, tổ T2, khu phố F1, phường A, thành phố Th, t nh Bình Dương, có mặt.

3. Bà Nguyễn Thị Mỹ H2, sinh năm 1994, nơi thường trú: số nhà F, đường S1, tổ T2, khu phố F1, phường A, thành phố Th, t nh Bình Dương, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Bà Lê Hồng B, vắng mặt.

2. Ông Đặng Hoàng B1, vắng mặt.

3. Ông Lê Thiên C, vắng mặt.

4. Ông Lê Phước C1, vắng mặt.

5. Bà Nguyễn Hồng Z1, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và quá trình x t hỏi, tranh luận t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Bùi Thanh H, Trương Thanh S và Trần Trung T có mối quan hệ b n bè, cùng sinh sống t i phường A, thành phố Th, t nh Bình Dương. Khoảng 20 giờ ngày 02/9/2022, H, S, T cùng với U, U1 (kh ng rõ nh n th n, lai lịch), chị Nguyễn Thị Mỹ H2 là vợ của S và 02 (hai) con của S đ n ăn, uống bia t i quán ăn “Y1”, địa ch : khu phố G, phường G1, thành phố Th, t nh Bình Dương.

Đ n khoảng 22 giờ cùng ngày 02 9 2022, S mượn xe m t Honda Airblade, màu đỏ-đen, biển số 61B1-918.xx của H đưa chị H2 cùng 02 con của S về trước. Khi S điều khiển xe m t đi trên đo n đường D thuộc khu phố G, phường G1, thành phố Th, t nh Bình Dương trước quán ăn “K”, do trời mưa nên khi S ch y ngang qua làm văng nước trúng vào người của anh Trần uốc T1 đang đi qua bên đường cùng anh Đặng Hoàng B1, anh Lê Thiên C và chị Lê Hồng B. Lúc này, anh T1 có lời nói lớn ti ng với S nên S dừng xe và quay đầu ch i l i T1. B c tức chuyện bị anh T1 ch i, S điều khiển xe m t chở vợ con quay l i quán ăn “Y1”, m c đích để vợ con ở l i quán đợi và kêu H đi tìm đánh T1. Đ n nơi, S để vợ con của S xuống xe và đợi ở v a hè cách quán ốc khoảng 10 mét rồi S vẫy tay và nói to với H “ra đánh thằng này cho anh, nó ch i anh”. Nghe vậy, H lấy 01 c y k o có cán cầm bọc nh a màu đỏ, dài 19cm, mũi nhọn có hai lưỡi dùng cắt đồ ăn trên bàn của quán giấu kín vào trong tay đi ra chỗ S. Lúc này, T nghe S gọi nên T cũng đi theo sau H nhưng kh ng bi t việc H cầm theo kéo. S nói H lên xe, thấy vậy T cũng lên xe đi cùng S và H để xem có việc gì. au đó, S điều khiển xe m t Honda Airblade, biển số 61B1-918.xx, màu đỏ-đen chở T ngồi giữa, H ngồi sau cùng quay l i quán ăn “K”. Trên đường đi, S ti p t c kể l i chuyện có người ch i S cho H và T nghe.

Khi đ n nơi, S dừng xe giữa lòng đường trước quán “K”, thấy anh B1 và anh C đang đi bộ trước quán “K” nên cả ba xuống xe, H nói “sao t i b y đánh anh tao” đồng thời cùng S, T x ng tới dùng tay, ch n đánh B1, C nhưng kh ng g y ra thương tích gì. Bị đánh, B1 nói: “t i quen bi t gì anh đ u mà ch i anh”. Lúc này, S nhìn thấy anh T1 đi từ bên đường qua đ n hành lang trước quán “K”, S ch tay và nói “thằng này nãy ch i tao”. Nghe vậy, T ch y đ n chỗ của anh T1, dùng ch n đá 01 cái trúng vào ch n của anh T1. au đó, anh T1 bỏ ch y thì bị H và S đuổi theo. S ch y đ n trước hướng ch y của anh T1 rồi dùng tay đấm vào vai của anh T1 , còn H đuổi theo phía sau anh T1, trên tay phải cầm 01 c y k o rồi giơ lên đ m trúng vào h sườn trái của anh T1 g y v t thương 1,2x0,2cm. Thấy vậy, anh B1 đ n can ngăn, anh T1 bỏ ch y, H ti p t c rượt đuổi khoảng 03-04 mét thì anh T1 bì té ngã. Khi anh T1 đứng dậy để ch y, H đuổi kịp đ n chỗ anh T1 rồi cầm k o bằng tay phải lao tới đ m trúng vào ng c trái của anh T1 g y v t thương 0,5x0,2cm, anh T1 ti p t c bỏ ch y. H đuổi theo anh T1 qua bên đường và cầm k o trên tay phải lao tới đ m liên ti p 02 nhát vào phía trước ng c của Trường, do anh T1 đang tư th đi lùi tránh n nên ch bị trúng 01 nhát g y v t thương 1,3x0,5cm. Lúc này, anh B1 và C ch y đ n can ngăn nên H, S và T bỏ đi về l i quán ốc.

Ngày 05/9/2022, Bùi Thanh H đ n Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố Th, t nh Bình Dường để đầu thú. Đ n ngày 27 9 2022, Trương Thanh S cũng ra đầu thú, thành kh n khai nhận hành vi ph m tội.

T i Bản k t luận giám định pháp y về thương tích số 711 2022 GĐPY ngày 14/10/202 của Trung tâm pháp y t nh Bình Dương k t luận tỷ lệ thương tật, cơ ch hình thành thương tích đối với bị h i Trần Quốc T1 như sau:

- Dấu v t chính qua giám định: V t thương ng c trái khoảng liên sườn V-VI đường trung đòn trái 0,5x0,2cm, v t thương ng c trái-lưng trái 1,3x0,5cm, v t thương vùng h sườn trái 1,2x0,2cm, thấu ng c b ng: thủng cơ hoành, thủng tâm thất trái, thủng lách, tràn máu màng ngoài tim, tràn máu màng phổi trái. Đã phẫu thuật khâu tâm thất trái, kh u màng ngoài tim, kh u cơ hoàng trái, dẫn lưu màng phổi trái, v t mổ ng c trái 16,5x0,7cm, v t dẫn lưu màng phổi trái 1,3x0,6cm, hai v t mổ nội soi vùng b ng trái 1x0,2cm và 0,6x0,2cm, sẹo lành. Hiện t i còn ít dịch màng ngoài tim, dày dính màng phổi đáy phổi trái.

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích g y nên của Trần Quốc T1 là 67% (sáu mươi bảy phần trăm).

- Cơ ch hình thành thương tích:

+ V t thương ng c trái khoảng liên sườn V-VI đường trung đòn trái, thấu ng c tràn máu màng phổi trái, thủng t m thất trái: Chiều nằm ngang, hướng từ trước ra sau, bờ sắc gọn.

+ V t thương ng c-lưng trái: Chiều dọc, hướng từ trái sang phải, bờ tương đối gọn.

+ V t thương vùng h sườn trái: Chiều nằm ngang, hướng từ trước ra sau, bờ sắc gọn.

+ Các v t thương này khả năng do vật sắc nhọn gây ra.

- Trường hợp thương tích của bị h i Trần Quốc T1 n u kh ng điều trị cấp cứu kịp thời, khả năng tổn thương tim g y chèn p tim, rung thất, shock tr y tim m ch, ngưng tim dẫn đ n t vong.

T i Biên bản trích xuất hình ảnh số 451/PC09 ngày 07/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình s Công an t nh Bình Dương trích xuất hình ảnh camera ghi l i diễn bi n v án xảy ra ngày 02/9/2022 t i quán “K”, địa ch : phường G1, thành phố Th, t nh Bình Dương.

Về thu giữ, t m giữ đồ vật, tài liệu và x l vật chứng:

- 01 U B hiệu Adata, màu đỏ-đen, bên trong chứa tập tin video 2795398216993337556.mp4 và 01 U B hiệu Kingston, màu đỏ, bên trong chứa tập tin video 2427171142470571491.mp4 cùng ghi l i diễn bi n v án xảy ra ngày 02/9/2022 t i quán “K”;

- 01 c y k o có cán cầm ốp nh a màu đỏ, dài 19,5cm;

- 01 xe m t Honda Airblade, màu đỏ-đen, biển số 61B1-918.xx, số máy: JF63E20431xx, số khung: 6323H20363xx.

Về trách nhiệm d n s : Bị h i Trần uốc T1 yêu cầu bị cáo Bùi Thanh H, Trương Thanh S bồi thường tổng chi phí điều trị 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng; bị cáo đã tác động gia đình và ông Bùi Văn P là cha ruột của bị cáo H đã bồi thường số tiền 110.000.000 (một trăm mười triệu) đồng.

T i bản Cáo tr ng số: 33/CT-VKS-P2 ngày 25/01/2024, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân t nh Bình Dương đã truy tố các bị cáo Bùi Thanh H; Trương Thanh S về tội “Gi t người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 và Điều 15 của Bộ luật Hình s ; bị cáo Trần Trung T về tội “G y rối trật t công cộng” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017).

T i phiên tòa, đ i diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quy t định cáo tr ng đã truy tố đối với các bị cáo Bùi Thanh H, Trương Thanh S về tội “Gi t người” quy định t i điểm n khoản 1 Điều 123, Điều 15 và truy tố đối với bị cáo Trần Trung T về tội “G y rối trật t c ng cộng” theo quy định t i khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017). Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi ph m tội của các bị cáo gây ra và các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình s , đề nghị Hội đồng x t x :

X ph t bị cáo Bùi Thanh H mức án từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đ n 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gi t người”;

X ph t bị cáo Trương Thanh S mức án từ 08 (tám) năm đ n 09 (chín) năm tù về tội “Gi t người”;

X ph t bị cáo Trần Trung T mức án từ 04 (bốn) tháng đ n 06 (sáu) tháng tù về tội “G y rối trật t c ng cộng”.

Về trách nhiệm d n s : quá trình điều tra bị h i yêu cầu các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường tổng chi phí là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng; t i phiên tòa bị h i yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng; các bị cáo đồng , nên đề nghị Hội đồng x t x ghi nhận.

Về x l vật chứng: đề nghị x l theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thanh H trình bày: thống nhất tội danh và điều khoản mà Cáo tr ng Viện kiểm sát nhân dân t nh Bình Dương quy t định truy tố bị cáo. Tuy nhiên, cần xem x t hoàn cảnh ph m tội của bị cáo H là do bị cáo S rủ rê, trong tr ng thái say s n kh ng làm chủ được hành vi của bản th n. Bị cáo có nh n th n tốt, đang là sinh viên đ i học, tương lai rộng mở nhưng vì 01 phút bồng bột ph m tội phải chịu quá nhiều tổn thất. in Hội đồng x t x xem x t các tình ti t giảm nhẹ để bị cáo có điều kiện sớm trở về khắc ph c hậu quả, chăm lo gia đình.

Người bào chữa cho bị cáo Trương Thanh S trình bày: hành vi của bị cáo S tính chất c n đồ kh ng rõ ràng do bị cáo S và bị h i do m u thuẫn nhỏ mà dẫn đ n s việc. S ch dùng tay đánh vào vai bị h i, kh ng đánh vào vùng trọng y u trên cơ thể. Bị cáo H cũng vì tình cảm b n bè đi theo S đánh bị h i. S không có ý thức gi t bị h i, các bị cáo ch muốn dằn mặt phía bị h i. Bị cáo S ph m tội thuộc trường hợp chưa đ t nên đề nghị Hội đồng x t x x ph t bị cáo mức hình ph t thấp nhất dưới khung hình ph t mà đ i diện Viện kiểm sát đề nghị.

Đ i diện Viện kiểm sát tranh luận: cáo tr ng nhận định hành vi của S có tính chất c n đồ là phù hợp, ch vì m u thuẫn nhỏ nhặt mà lỗi xuất phát là do bị cáo S, lẽ ra S phải xin lỗi bị h i khi ch y xe v tình văng nước trúng bị h i nhưng bị cáo S l i g y gổ, sau đó còn quay về quán rủ thêm người tới đánh bị h i.

Các bị cáo Bùi Thanh H, Trương Thanh S đồng ý với lời trình bày của người bào chữa và không bổ sung gì thêm.

Bị cáo Trần Trung T không tham gia tranh luận.

Bị h i không tham gia tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo Bùi Thanh H, Trương Thanh S mong Hội đồng x t x xem x t giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm trở về chăm sóc gia đình; bị cáo Trần Trung T mong Hội đồng x t x giảm nhẹ hình ph t và xin được hưởng án treo để có điều kiện chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng x t x nhận định như sau:

Về tố t ng: các hành vi, quy t định tố t ng của Cơ quan Điều tra C ng an t nh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n t nh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã th c hiện đúng th m quyền, trình t , thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình s . uá trình điều tra và t i phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, bị h i kh ng có ki n, khi u n i về hành vi quy t định của cơ quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quy t định tố t ng của cơ quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng đã th c hiện đều hợp pháp.

T i phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án, đủ cơ sở k t luận:

Xuất phát từ mâu thuẫn trong tham gia giao thông khoảng 22 giờ ngày 02/9/2022, Trương Thanh S rủ Bùi Thanh H đi tìm ng Trần uốc T1 để đánh; Trần Trung T khi nghe H và S nói rũ nhau đi đánh T1 mặc dù kh ng được rũ nhưng T vẫn lên xe để đi cùng với H và S; khi đ n trước quán ăn “K”, địa ch : đường D, khu phố G, phường G1, thành phố Th, t nh Bình Dương thì S nhìn thấy T1nên S và H đuổi theo Trường, T1 bỏ ch y và t ngã xuống thì T ch y đ n dùng ch n đá 01 cái trúng vào ch n của anh T1; bị đá, ông T1 bỏ ch y thì S ch y đ n dùng tay đấm vào vai của ông T1, còn H đuổi theo phía sau ông T1 dùng tay phải cầm 01 (một) cây kéo dài 19,5cm đ m trúng vào h sườn trái của ông Trường, khi ông T1 bỏ ch y, thì H ti p t c đuổi theo đ m 01 cái trúng vào ng c trái của anh T1, 02 cái vào phía trước ng c của ông T1 nhưng ch bị trúng 01 cái.

T i Bản k t luận giám định pháp y về thương tích số 711/2022 GĐPY ngày 14/10/202 của Trung tâm pháp y t nh Bình Dương k t luận tỷ lệ thương tật, cơ ch hình thành thương tích đối với bị h i Trần Quốc T1 là 67% (sáu mươi bảy phần trăm); trường hợp thương tích của bị h i Trần Quốc T1 n u kh ng điều trị cấp cứu kịp thời, khả năng tổn thương tim g y chèn p tim, rung thất, shock tr y tim m ch, ngưng tim dẫn đ n t vong. Trần Trung T không bi t việc H cầm theo kéo để đánh người bị h i, nhưng khi đ n nơi T có tham gia đánh nhưng kh ng g y thương tích cho Đặng Hoàng B1, Lê Thiên C và người bị h i. Do đó, cáo tr ng của Viện kiểm sát nh n d n t nh Bình Dương truy tố các bị cáo Bùi Thanh H, Trương Thanh S về tội “Gi t người” thuộc trường hợp chưa đ t với tình ti t định khung gi t hai người trở lên theo quy định t i điểm n khoản 1 Điều 123, Điều 15 của Bộ luật hình s ; truy tố bị cáo Trần Trung T về tội “Gây rối trật t công cộng”, theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình s là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi ph m tội của các bị cáo Bùi Thanh H, Trương Thanh S dùng kéo là hung khí nguy hiểm đ m vào các vùng trọng y u cơ thể của người bị h i với tỷ lệ thương tích là 67% (sáu mươi bảy phần trăm), bị h i không ch t là ngoài ý muốn của các bị cáo; thể hiện ý thức xem thường tính m ng sức khỏe của người khác; bị cáo Trần Trung T có hành vi đánh bị h i T1 nhưng kh ng g y thương tích cho bị h i trước khu v c quán ăn, nơi có đ ng người t tập gây ảnh hưởng xấu đ n tình hình an ninh, trật t công cộng, an toàn xã hội t i địa phương thể hiện ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo.

Hành vi ph m tội của các bị cáo Bùi Thanh H, Trương Thanh S là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, gây bức xúc trong nhân dân, cần phải x lý nghiêm; các bị cáo có đủ năng l c chịu trách nhiệm hình s về tội ph m mà bị cáo đã th c hiện; căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi ph m tội của bị cáo, Hội đồng xét x xét thấy, cần áp d ng mức hình ph t tương xứng với hành vi ph m tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo d c đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội; hành vi “G y rối trật t c ng cộng” của bị cáo Trần Trung T cần có mức hình ph t phù hợp tương xứng với tính chất, mức độ hành vi ph m tội nhằm giáo d c răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, tuy nhiên, khi quy t định hình ph t cần xem xét các tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình s đối với các bị cáo để quy t định mức hình ph t cho phù hợp;

Xét vai trò th c hiện hành vi ph m tội của từng bị cáo: bị cáo S là người rủ rê, đưa ra các th ng tin nhằm lôi kéo các bị cáo còn l i th c hiện hành vi ph m tội; bị cáo H là người tr c ti p dùng k o đ m và g y thương tích đối với ông Trường; nên bị cáo H phải bị x ph t nặng hơn bị cáo S.

Về trách nhiệm dân s : bị h i Trần uốc T1 yêu cầu bị cáo Bùi Thanh H, Trương Thanh S bồi thường tổng chi phí điều trị 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng; ông Bùi Văn P là cha ruột của bị cáo H đã bồi thường tổng số tiền 110.000.000 (một trăm mười triệu) đồng; bà Nguyễn Thị Mỹ H2 (vợ bị cáo S) đã bồi thường số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, các bên đã giao nhận tr c ti p cho gia đình của bị h i T1.

T i phiên tòa, bị h i T1 có yêu cầu ngoài số tiền đã nhận từ gia đình các bị cáo, bị h i yêu cầu các bị cáo ti p t c bồi thường số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng; các bị cáo đồng , x t đ y là chí t nguyện thỏa thuận của các bên nên Hội đồng x t x ghi nhận; quá trình chu n bị x t x sơ th m ng Trương Thanh P1 (anh ruột của bị cáo S) nộp 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng nên các bị cáo còn có trách nhiệm liên đới ti p t c bồi thường cho bị h i T1 số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng.

Về tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình s : không.

Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình s : trong quá trình điều tra và t i phiên tòa các bị cáo H, S, thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo H, S đã tác động gia đình bồi thường khắc ph c hậu quả; sau khi ph m tội các bị cáo ra đầu thú; bị cáo H có ông nội là Liệt sĩ (ông Bùi Văn K1) là các tình ti t giảm nhẹ quy định t i điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình s ; bị cáo Trần Trung T thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trần Trung T có thời gian tham gia ho t động trong l c lượng cơ động được tặng Giấy khen là các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình s quy định t i điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình s ; bị cáo T có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền s , có nhân thân tốt. Do vậy, trường hợp của bị cáo đủ điều kiện để hưởng án treo quy định t i Điều 65 Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017) và các Nghị quy t của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp d ng Điều 65 của Bộ luật Hình s về án treo; xét thấy không cần thi t phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, t o điều kiện cho bị cáo được t cải t o, s a chữa bản thân, làm người có ích cho gia đình và xã hội; đồng thời thể hiện s khoan hồng của pháp luật đối với người ph m tội bi t ăn năn hối cải, đề cao tính hướng thiện trong x l người ph m tội.

Đối với thương tích của ông Đặng Hoàng B1 và ông Lê Thiên C do Bùi Thanh H và Trần Trung T g y ra, x t thấy tỷ lệ thương tích kh ng đáng kể, ông B1 và C cũng kh ng yêu cầu giám định thương tích, khởi tố v án hình s nên Cơ quan điều tra kh ng xem x t, x l là phù hợp.

Về x l vật chứng:

- 01 (một) U B hiệu Adata, màu đỏ-đen, bên trong chứa tập tin video 2795398216993337556.mp4 và 01 (một) U B hiệu Kingston, màu đỏ, bên trong chứa tập tin video 2427171142470571491.mp4 cùng ghi l i diễn bi n v án xảy ra ngày 02/9/2022, là chứng cứ của của v án nên lưu vào hồ sơ v án.

- 01 (một) c y k o có cán cầm ốp nh a màu đỏ, dài 19,5cm là c ng c dùng vào việc ph m tội nên tịch thu, tiêu hủy.

Ý ki n của đ i diện Viện kiểm sát nh n d n t nh Bình Dương về tội danh và mức hình ph t đối với các bị cáo Bùi Thanh H là phù hợp; mức hình ph t đối với bị cáo Trương Thanh S là có phần nghiêm khắc nên Hội đồng x t x áp d ng mức hình ph t thấp hơn mà Viện kiểm sát đã đề nghị; mức hình ph t mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Trần Trung T là phù hợp nhưng về biện pháp chấp hành hình ph t là kh ng phù hợp nên kh ng được chấp nhận.

Ý ki n của những người bào chữa cho các bị cáo H, S có cơ sở chấp nhận một phần.

Về án phí sơ th m: các bị cáo ph m tội và bị k t án nên phải chịu án phí hình s sơ th m; các bị cáo H, S có trách nhiệm liên đới bồi thường nên phải chịu án phí dân s sơ th m về phần bồi thường.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố t ng hình s năm 2015;

1. Tuyên bố các bị cáo Bùi Thanh H, Trương Thanh S ph m tội “Gi t người” thuộc trường hợp chưa đ t; bị cáo Trần Trung T ph m tội “Gây rối trật t công cộng”.

Áp d ng điểm n khoản 1 Điều 123, Điều 15, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017);

X ph t bị cáo Bùi Thanh H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày 05/9/2022.

X ph t bị cáo Trương Thanh S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp d ng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017);

X ph t bị cáo Trần Trung T 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật t công cộng” nhưng cho hưởng án treo thời gian th thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án (26/4/2024).

Giao bị cáo Trần Trung T về Ủy ban nhân dân phường A, thành phố Th, t nh Bình Dương giám sát giáo d c trong thời gian th thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì th c hiện theo quy định t i khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình s . Trong thời gian th thách, người được hưởng án treo cố ý vi ph m nghĩa v 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quy t định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm bồi thường dân s : các bị cáo Bùi Thanh H, Trương Thanh S có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị h i số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng được khấu trừ số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng mà Trương Thanh P1 đã nộp, các bị cáo Bùi Thanh H, Trương Thanh S còn phải ti p t c bồi thường cho bị h i Trần uốc T1 số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng; ng Trần uốc T1 được quyền liên hệ với C c thi hành án d n s t nh Bình Dương để nhận số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng mà Trương Thanh S (Trương Thanh P1 nộp thay) theo Biên lai thu tiền số 0000038 ngày 15/4/2024 của C c thi hành án d n s t nh Bình Dương.

Kể từ ngày bản án, quy t định có hiệu l c pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quy t định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đ n khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i Điều 357, Điều 468 của Bộ luật D n s năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quy t định được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân s .

3. Về x lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp d ng Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình s năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017):

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư màu trắng được niêm phong có chữ k của Nguyễn Hồng Z1, Nguyễn Thanh T3 và chữ UBND thành phố Th, UBND phường G1 bên trong chứa 01 (một) c y k o có cán cầm ốp nh a màu đỏ, dài 19,5cm.

(Vật chứng được chuyển giao tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 01 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Bình Dương và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương).

4. Về án phí hình s sơ th m: áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình s ; Nghị quy t số 326 2016 UBTV H14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường v uốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và s d ng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Bùi Thanh H, Trương Thanh S, Trần Trung T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình s sơ th m; các bị cáo Bùi Thanh H, Trương Thanh S liên đới chịu 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng án phí d n s về phần bồi thường.

Bị cáo, bị h i, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đ n v án được quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ