- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần H2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày 27 tháng 3 năm 2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU- TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Bá Diễn.
+ Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Ngọc Anh và bà Phan Thị Thu Thảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quyết Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuất - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần H2, sinh ngày 01/10/1996, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Nơi ở (không đăng ký tạm trú): Tổ 10, ấp C, xã V, huyện V, Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên Chúa.
Nghề nghiệp: Không.
Trình độ học vấn: Lớp 9/12.
Con ông Trần Mỹ L, sinh năm 1958 và bà Trương Thị H, sinh năm 1957
Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình và chưa có vợ, con.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 21/12/2023, chuyển tạm giam ngày 30/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V.
Bị cáo có mặt tham gia phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
H2 được bạn bè giới thiệu đối tượng nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) ở khu vực ngã ba T, xã B, huyện T có bán ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 18/12/2023, H2 thuê xe ôm từ thành phố B đi đến khu vực ngã ba T thuộc xã B, huyện T tìm gặp và mua của nam thanh niên này 01 bịch ma túy đá với giá 700.000 đồng, rồi mang về nhà trọ tại ấp C, xã V, huyện V sử dụng. H2 đã lấy một phần ma túy vừa mua được ra sử dụng, số ma túy còn lại H2 hàn kín rồi cất giấu trên nệm trong phòng ngủ với mục đích để H2 sử dụng dần. Đến khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 21/12/2023, Công an xã V tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện H2 đang tàng trữ trái phép chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V xử lý theo quy định của pháp luật.
Tang vật thu giữ: 01 bịch nylon được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy đá).
Kết quả xét nghiệm (test) chất ma túy xác định Trần H2 dương tính với chất ma túy Methamphetamine.
Bản kết luận giám định số 2852/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,1795gam, loại Methamphetamine. H2 lại đối tượng giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,1565gam, được niêm phong trong phong bì số 2852/KL-KTHS.
Tại bản Cáo trạng số 52/CT-VKSVC ngày 08 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu để xét xử Trần H2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Trần H2 từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng tù. Đồng thời đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số lượng ma túy còn lại sau giám định và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng:
Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.
. Về tội danh và hình phạt:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, tại phòng trọ thuộc tổ A, ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Trần H2 có hành vi tàng trữ trái phép 0,1795 gam ma tuý, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang. Như vậy, bị cáo Trần H2 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định thuộc chế độ quản lý các chất ma túy nên cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn với mức đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống tôn trọng pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
. Đối với nam thanh niên bán ma túy cho H2 hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
. Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định cần tịch thu, tiêu hủy;
. Về án phí: Do bị cáo phạm tội nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần H2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Trần H2 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 21 tháng 12 năm 2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong trong phòng bì đã được ghi số 2852/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ;
(Vật chứng trên đã được Cơ quan điều tra chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/3/2024).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trần H2 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Vĩnh Cửu; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Cửu; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan điều tra – CA huyện Vĩnh Cửu; - Cơ quan THA hình sự Công an huyện Vĩnh Cửu; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - TAND tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Bá Diễn |