vanban.org

Bản án 49/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội Tuyên án 26/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Sỹ L, Thái Doãn V, Đặng Văn Q, Nghiêm Đức T, Trần Anh D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Phạt bị cáo Lê Sỹ L 18 (Mười tám) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp với hình phạt 16 (Mười sáu) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng tại bản án hình sự sơ thẩm số 139/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Lê Sỹ L phải ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Sỹ Luân và đồng phạm phạm tội Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lê Sỹ L, Thái Doãn V, Đặng Văn Q, Nghiêm Đức T, Trần Anh D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS - ST
Ngày: 26 - 6 - 2024.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Thịnh - Bí thư đoàn Thị trấn Phú Xuyên.

2. Bà Lê Thị Phương Mai - Chuyên viên phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Phú Xuyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Mai – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2024/TLST - HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST - HS, ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Sỹ L, sinh ngày 30/5/2007 tại Thành phố Hà Nội (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 19 ngày); đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Nam Phú, xã Nam Phong, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Cường và bà Lê Thị Tuyết; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 16 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2023 đến ngày 15/8/2023 (bị cáo chưa chấp hành hình phạt tù bản án này). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/02/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 02 Công an Thành phố Hà Nội. Có mặt.

2. Thái Doãn V, sinh ngày 30/10/2007 tại Thành phố Hà Nội (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 3 tháng 19 ngày); đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Tạ Xá, xã Đại T, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; con ông Thái Doãn Thuỷ và bà Phạm Thị Nhàn; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/02/2024 đến ngày 29/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

3. Đặng Văn Q, sinh ngày 03/5/2006 tại Thành phố Hà Nội (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 9 tháng 15 ngày); đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Xuân La, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Tuyên và bà Đặng Thị Sợi; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/02/2024 đến ngày 29/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

4. Nghiêm Đức T, sinh ngày 14/12/2006 tại Thành phố Hà Nội (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 02 tháng 04 ngày); đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; con ông Nghiêm Đức Thường và bà Nguyễn Thị Hảo; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/02/2024 đến ngày 29/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

5. Trần Anh D, sinh ngày 02/10/2007 tại Thành phố Hà Nội (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 4 tháng 16 ngày); đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Đào Xá, xã T Lợi, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; con ông Trần Anh Tuấn và bà Nguyễn Thị Hệ; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/02/2024 đến ngày 29/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

+ Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Anh D đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là: Ông Trần Anh Tuấn, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Hệ, sinh năm 1986; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Đào Xá, xã T Lợi, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; là bố mẹ bị cáo. Đều có mặt.

+ Người đại diện hợp pháp của bị cáo Thái Doãn V đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là: Ông Thái Doãn T, sinh năm 1974 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1977; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Tạ Xá, xã Đại T, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; là bố mẹ bị cáo. Ông T có mặt, bà N vắng mặt.

+ Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nghiêm Đức T đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là: Ông Nghiêm Đức T, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; là bố mẹ bị cáo. Bà H có mặt, ông T vắng mặt.

+ Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Sỹ L là: Ông Lê Văn C, sinh năm 1982 và bà Lê Thị T, sinh năm 1984; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Nam Phú, xã Nam Phong, huyện Phú Xuyên, Thành Phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; là bố mẹ bị cáo. Đều có mặt.

+ Người bào chữa cho các bị cáo Lê Sỹ L, Nghiêm Đức T, Trần Anh D là: Ông Nghiêm Đức Huy - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hà Nội. Có mặt.

+ Người bào chữa cho các bị cáo Thái Doãn V, Đặng Văn Q là: Bà Đỗ Thị Thào - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hà Nội. Có mặt.

+ Những người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan:

- Cháu Hoàng Trung Hiếu, sinh ngày 04/3/2007; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Tiểu khu Phú Thịnh, thị trấn Phú Minh, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Hoàng Trung Hiếu là: Ông Hoàng Văn Tú, sinh năm 1983 (bố cháu Hiếu); đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Tiểu khu Phú Thịnh, thị trấn Phú Minh, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt

- Cháu Ngô Đại Dương, sinh ngày 24/4/2008; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Tử Dương, xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín, TP Hà Nội. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Ngô Đại Dương là: Bà Vũ Hải Yến, sinh năm 1984 (mẹ cháu Dương); đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Tử Dương, xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

- Cháu Đặng Quang V, sinh ngày 03/01/2009; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Xuân La, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Đặng Quang V là: Bà Nguyễn Thị Lương, sinh năm 1986 (mẹ cháu V); đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Xuân La, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

- Cháu Nguyễn Lê Nguyên, sinh ngày 25/6/2008; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Văn Hội, xã Đại T, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Lê Nguyên là: Ông Nguyễn Đức Thọ, sinh năm 1982 (bố cháu Nguyên); đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Văn Hội, xã Đại T, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

- Ông Đặng Văn Tuyên, sinh năm 1982; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Xuân La, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Anh Vũ Tuấn Anh, sinh năm 1986 và chị Nguyễn Thị Vui, sinh năm 1989; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Tử Dương, xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

+ Đại diện Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Phú Xuyên là ông Lương Ngọc Huy – Phó Hiệu trưởng và Giáo viên chủ nhiệm là bà Lê Thị Tươi nơi bị cáo Thái Doãn V đang học tập. Có mặt.

+ Đại diện Trường cao đẳng cơ điện và công nghiệp thực phẩm Hà Nội và Giáo viên chủ nhiệm bị cáo Nghiêm Đức T đang học tập. Vắng mặt.

+ Đại diện Trường Trung cấp nghề số 1 Hà Nội và Giáo viên chủ nhiệm bị cáo Trần Anh D đang học tập. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghi ngờ nhóm của Nguyễn Phạm Hải Long, sinh năm 2006 ở tiểu khu Phú Thịnh, thị trấn Phú Minh, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội ném vỏ chai thủy Th vào chân Ngô Đại Dương tối ngày 16/02/2024 (nhưng không biết ai ném). Nên tối ngày 18/02/2024, Ngô Đại Dương, Thái Doãn V, Nguyễn Lê Nguyên, Đặng Văn Q, Đặng Quang V, Nghiêm Đức T, Trần Anh D, Lê Sỹ L gọi nhau qua điện thoại và ứng dụng Messenger hẹn gặp nhau với mục đích tìm đánh nhóm của Nguyễn Phạm Hải Long.

Khoảng 20 giờ ngày 18/02/2024, cả bọn tụ tập ở khu vực Đình thôn Tạ Xá, xã Đại T, huyện Phú Xuyên; Nguyên mang theo 01 dao tự chế dạng dao mèo dài 66cm có chuôi gỗ, vỏ bao màu đỏ và 01 kiếm tự chế dài 84,5cm, có chuôi gỗ, vỏ bao màu đen. Sau đó cả bọn chở nhau trên 04 xe mô tô: L điều khiển xe Honda Wave, biển số 29D2-201.17 chở Thái Doãn V cầm kiếm; T điều khiển xe Wave, biển số 29Y5-683.18 29Y7 - 557.74 chở Nguyên cầm dao; Q điểu khiển xe Honda Wave, biển số 29Y5-683.18 màu đen chở D; Dương điều khiển xe Honda Airblade, biển số 29Y7-577.74 29Y5 - 616.81 chở Đặng Quang V di chuyển từ Đình thôn Tạ Xá, xã Đại T ra Q lộ 1A đi dọc hướng Hà Nội đi Hà Nam rồi rẽ vào đường đi xã Nam Triều, huyện Phú Xuyên để tìm đánh nhóm của Phạm Hải Long. Khi đi đến khu vực cống chui Cao tốc thuộc xã Nam Triều thì Lê Sỹ L phát hiện thấy anh Hoàng Trung Hiếu đi xe máy Airblade ngược chiều. Do L có mâu thuẫn với Hiếu trước đó và biết Hiếu chơi cùng với nhóm của Long nên L chỉ tay về phía Hiếu hô to “Anh em ơi, thằng Hoàng Trung Hiếu bên đội thằng Long kìa, đuổi theo”. Cả bọn ngay lập tức quay xe lại đi với tốc độ cao vừa hô hét vừa đuổi theo Hiếu. Cả bon đuổi Hiếu khoảng 500 - 700m đến tiểu khu Thao Chính, thị trấn Phú Xuyên thấy Hiếu dừng xe bỏ chạy vào nhà chị Nguyễn Thị Thúy ẩn trốn thì Nguyên cầm 01 con dao, Thái Doãn V cầm 01 kiếm cùng với Q và L đuổi theo vào bên trong nhà chị Thúy đánh Hiếu. L chửi to tiếng cùng Q dùng tay đấm Hiếu vào người; Nguyên dùng chân tay đấm đạp vào người Hiếu và cầm kiếm có vỏ bao gỗ bên ngoài kiếm bên trong vụt 2 - 3 cái vào người Hiếu; còn D, T, Đặng Quang V, Dương đứng ngoài đường với mục đích cảnh giới. Khoảng 01 phút sau thấy có nhiều người đến nên cả bọn bỏ đi, di chuyển qua nhiều tuyến đường đến cánh đồng thôn Xuân La, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên thì dừng lại. Sau đó T chở Nguyên đi cất dao, kiếm ở bãi rác thôn Phú Đôi, xã Đại T, huyện Phú Xuyên rồi cả bọn ra về.

Sau khi tiếp nhận vụ việc, quá trình điều tra: Ngày 19/02/2024, Lê Sỹ L, Trần Anh D và Nghiêm Đức T đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Xuyên đầu thú; ngày 20/02/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Xuyên bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Thái Doãn V, Đặng Văn Q, thu giữ vật chứng gồm:

- 01 dao dài 66cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm; lưỡi dao dài 46cm, bản rộng 4,5cm, đầu nhọn, có vỏ bao bằng gỗ.

- 01 kiếm tự chế dài 84,5cm; chuôi kiếm bằng gỗ dài 24,5cm; lưỡi kiếm dài 60cm, đầu nhọn, bản rộng 03 cm, có vỏ bao bằng gỗ.

- 04 xe mô tô gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29Y7 557.74; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29Y5-683.18; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29D2-201.17; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 29Y5-616.81.

Hậu quả:

+ Hoàng Trung Hiếu bị thương sưng nề, bầm tím phần mềm ở vùng đầu, tay và lưng đến Bệnh viện đa khoa huyện Phú Xuyên sơ cứu về nhà trong ngày.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 474/KLTTCT-TTPY ngày 15/4/2024 của Trung tâm pháp y sở y tế Hà Nội kết luận đối với Hoàng Trung Hiếu:

Các kết quả chính: Các chạm thương phần mềm vùng đầu, mặt, tay, vai hiện còn sưng nề, bầm tím, không có vết thương, không còn tổn thương xương: 0% (không phần trăm).

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Hoàng Trung Hiếu tại thời điểm giám định là: Không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Cơ chế hình thành thương tích: Chạm thương tích của anh Hoàng Trung Hiếu do vật tày gây ra.

+ Sự việc nêu trên đã làm mất trật tự an ninh tại địa phương, gây hoang mang lo sợ cho người tham gia giao thông và người dân xung quanh.

Đối với thương tích của Ngô Đại Dương ở ngón chân trái do bị ném vở chai thủy Th tối ngày 16/02/2024. Dương không điều trị thương tích tại cơ sở y tế nào.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 473/KLTTCT-TTPY ngày 15/4/2024 của Trung tâm phap y sở y tế Hà Nội kết luận đối với Ngô Đại Dương:

Các kết quả chính: Vết thương ngón I chân trái: 01%

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Ngô Đại Dương tại thời điểm giám định là 01% (Một phần trăm).

Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích của anh Ngô Đại Dương do vật tày có cạnh gây nên.

Quá trình tố tụng, các bị cáo Lê Sỹ L, Trần Anh D, Thái Doãn V, Đặng Văn Q, Nghiêm Đức T tác động gia đình đã tự nguyện bồi thường cho anh Hoàng Trung Hiếu số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Tại cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 27/5/2024 của VKSND huyện Phú Xuyên đã truy tố các bị cáo Lê Sỹ L, Thái Doãn V, Đặng Văn Q, Nghiêm Đức T, Trần Anh D về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Những người đại diện hợp pháp của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo do các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, phạm tội khi đang ở độ tuổi vị thành niên, sau khi phạm tội đã tác động gia đình thỏa thuận bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Trung Hiếu với tổng số tiền 5.000.000 đồng.

Với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần Anh Tuấn và bà Nguyễn Thị Hệ trình bày chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29Y5-683.18 thuộc quyền sở H hợp pháp của vợ chồng ông Tuấn, bà Hệ. Ông, bà không biết con trai là bị cáo Trần Anh D sử dụng chiếc xe này gây rối trật tự công cộng ngày 18/02/2024 nên ông bà đề nghị được trả lại chiếc xe máy này.

Ông Thái Doãn Thuỷ trình bày chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29D2-201.17 thuộc quyền sở H hợp pháp của ông và vợ chông là bà Phạm Thị Nhàn. Ông và bà Nhàn không biết con trai là bị cáo Thái Doãn V sử dụng chiếc xe này gây rối trật tự công cộng ngày 18/02/2024 nên ông đề nghị trả lại chiếc xe máy này cho vợ chồng ông.

Bà Nguyễn Thị Hảo trình bày chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29Y7 557.74 thuộc quyền sở H hợp pháp của bà và chồng bà là ông Nghiêm Đức Thường. Bà và bà ông Thường không biết con trai là bị cáo Nghiêm Đức T sử dụng chiếc xe này gây rối trật tự công cộng ngày 18/02/2024 nên bà đề nghị trả lại chiếc xe máy này cho vợ chồng bà.

Ông Đặng Văn Tuyên (bố bị cáo Q) trình bày, sau khi phạm tội bị cáo Q đã tác động gia đình để cùng với gia đình các bị cáo Lê Sỹ L, Trần Anh D, Thái Doãn V, Nghiêm Đức T thỏa thuận bồi cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Trung Hiếu với tổng số tiền 5.000.000 đồng.

Đại diện Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Phú Xuyên và Giáo viên chủ nhiệm bị cáo Thái Doãn V đang học tập đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo V được cải tạo tại địa phương để tiếp tục học tập tại trường.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Các bị cáo Lê Sỹ L, Trần Anh D, Thái Doãn V, Đặng Văn Q và Nghiêm Đức T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; các điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; điểm a Khoản 1 Điều 55; Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 91; Điều 101 và Điều 104 Bộ luật hình sự, tuyên phạt: Lê Sỹ L từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng; tổng hợp với hình phạt 16 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng tại bản án hình sự sơ thẩm số 139/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội; buộc bị cáo Lê Sỹ L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 34 tháng đến 40 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2024 được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2023 đến ngày 15/8/2023 theo bản án hình sự sơ thẩm số 139/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

- Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 (Áp dụng thêm điểm t Khoản 1 Điều 51 đối với các bị cáo Trần Anh D, Nghiêm Đức T); Điều 54; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự, tuyên phạt: Thái Doãn V, Đặng Văn Q, Nghiêm Đức T mỗi bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù và Trần Anh D từ 12 tháng đến 15 tháng tù, nhưng cho các bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi kể từ ngày tuyên án.

Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập giải quyết do người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29Y5-683.18 cho vợ chồng ông Trần Anh Tuấn, bà Nguyễn Thị Hệ; trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29D2-201.17 cho vợ chồng ông Thái Doãn Thuỷ, bà Phạm Thị Nhàn; trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29Y7 557.74 cho vợ chồng ông Nghiêm Đức Thường, bà Nguyễn Thị Hảo; trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 29Y5-616.81 cho vợ chồng anh Vũ Tuấn Anh, chị Nguyễn Thị Vui. Ngoài ra đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng các vụ của vụ án là 01 dao dài 66cm, 01 kiếm tự chế dài 84,5cm.

Đề nghị buộc các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tranh luận tại phiên tòa, những người bào chữa cho các bị cáo xác định các bị cáo bị truy tố ra trước toà về tội danh, điều luật theo Cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát nhân dân là không oan sai. Song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo phạm tội đang ở độ tuổi vị thành niên; sau khi phạm tội khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; gia đình các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn; các bị cáo có nhân thân tốt (trừ các bị cáo L) mà giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo mức thấp nhất, cho các bị cáo có nhân thân tốt được hưởng án treo.

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người tham gia tố tụng khác đều thừa nhận Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên... trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dụng vụ án:

Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với nội dung Kết luận của cơ quan điều tra, Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và của chính các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ như: Biên bản tiếp nhận nguồn T về tội phạm, Biên bản thu giữ vật chứng, Biên bản kiểm tra xác định nơi xảy ra vụ việc, Sơ đồ nơi xảy ra vụ việc, Bản kết luận giám định pháp y thương tích... đã có đủ cơ sở xác định:

Do nghi ngờ nhóm của Nguyễn Phạm Hải Long, sinh năm 2006 ở tiểu khu Phú Thịnh, thị trấn Phú Minh, huyện Phú Xuyên ném vỏ chai thủy Th vào chân Ngô Đại Dương tối ngày 16/02/2024 (nhưng không biết ai ném). Nên trong khoảng thời gian từ 17 giờ đến 20 giờ 40 phút ngày 18/02/2024, Lê Sỹ L, Thái Doãn V, Đặng Văn Q, Nghiêm Đức T, Trần Anh D, Nguyễn Lê Nguyễn, Đặng Quang V và Ngô Đại Dương chở nhau trên 04 xe mô tô đi với tốc độ cao, cầm kiếm, dao di chuyển trên địa bàn các xã Đại T, Nam Triều và thị trấn Phú Xuyên, huyện Phú Xuyên để tìm đánh nhóm của Nguyễn Phạm Hải Long. Khi đến cống chui Cao tốc thuộc xã Nam Triều, huyện Phú Xuyên gặp anh Hoàng Trung Hiếu thì Lê Sỹ L chỉ tay về phía Hiếu hô to “Anh em ơi, thằng Hoàng Trung Hiếu bên đội thằng Long kìa, đuổi theo”. Thấy vậy, cả bọn ngay lập tức điều khiển xe quay lại vừa hô hét vừa đuổi theo anh Hiếu đến tiểu khu Thao Chính, thị trấn Phú Xuyên thì anh Hiếu dừng xe bỏ chạy vào nhà chị Nguyễn Thị Thúy ẩn trốn. Nguyên cầm dao, Thái Doãn V cầm kiếm cùng với Q và L đuổi theo vào bên trong nhà chị Thúy đánh Hiếu; L chửi to tiếng cùng Q dùng tay đấm Hiếu vào người; Nguyên dùng chân tay đấm đạp vào người Hiếu và cầm kiếm có vỏ bao gỗ bên ngoài kiếm bên trong vụt 2 - 3 cái vào người Hiếu; còn D, T, Đặng Quang V, Dương đứng ngoài đường với mục đích cảnh giới. Khoảng 01 phút sau thấy có nhiều người dân đến nên cả bọn bỏ đi.

Với hành vi nêu trên, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên truy tố các bị cáo Lê Sỹ L, Thái Doãn V, Đặng Văn Q, Nghiêm Ðức T và Trần Anh D ra trước Tòa để xét xử về tội tội Gây rối trật tự công cộng với tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” theo điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ việc các bị cáo gây rối trật tự công cộng đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, đặc biệt gây sự hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, khiến dư luận bất bình đòi hỏi phải xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự với mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với vai trò và tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của từng bị cáo đã thực hiện.

Xét Lê Sỹ L là người hô hét chỉ tay về phía anh Hoàng Trung Hiếu để đồng bọn nhận biết, bảo đồng bọn đuổi đánh anh Hiếu và là người trực tiếp cùng đồng bọn rượt đuổi anh Hiếu nên được xếp ở vị trí thứ nhất với mức hình phạt cao hơn cả so với đồng bọn.

Thái Doãn V, Nghiêm Đức T tham gia chở đồng bọn cầm hung khí hoặc cầm hung khí ngồi sau xe đồng bọn di chuyển qua nhiều tuyến đường; rượt đuổi anh Hiếu gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, hoang mang, lo sợ cho người tham gia giao thông và người dân xung quanh nên cùng xếp ở vị trí thứ hai.

Đặng Văn Q, Trần Anh D cũng có các hành vi chở nhau cùng đồng bọn di chuyển trên đường, rượt đuổi anh Hiếu gây mất an ninh trật tự, song có vai trò mức độ phạm tội thấp hơn so với đồng bọn nên xếp ở nhóm vị trí cuối cùng.

Do Lê Sỹ L có nhân thân xấu đang chờ chấp hành bản án khác về tội Gây rối trật tự công cộng, lại giữ vai trò cao nhất trong vụ án này. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng là để răn đe, phòng ngừa chung. Song, cần cân nhắc đến việc quá trình tố tụng bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú, tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra khai báo ra đồng phạm; đã tác động gia đình bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Trung Hiếu và được đại diện hợp pháp của anh Hiếu có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn... là tình tiết quy định tại các điểm s, t Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất khung hình phạt quy định theo Điều 54 Bộ luật hình sự để bị cáo yên tâm cải tạo, cũng là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Các bị cáo Thái Doãn V, Đặng Văn Q, Nghiêm Đức T, Trần Anh D đều phạm tội lần đầu, quá trình tố tụng tỏ ra thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Trung Hiếu và được đại diện hợp pháp của anh Hiếu có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; Trần Anh D và Nghiêm Đức T sau khi phạm tội đã ra đầu thú, tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra khai báo ra đồng phạm; Doãn Thái V có ông ngoại là người có công với nước được tặng Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng ba và là Bệnh binh bị nhiễm chất độc hóa học; Trần Anh D có ông nội được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất; ngoài ra bị cáo Doãn Thái V, Nghiêm Đức T, Trần Anh D đang là Học sinh; các bị cáo trên đều có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng... là tình tiết quy định tại các điểm s, t Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo và cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho các bị cáo dưới mức thấp nhất mà khung hình phạt quy định, đồng thời không cần thiết phải cách ly các bị cáo này ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định Điều 65 Bộ luật hình sự, giao cho chính quyền địa phương nơi cư trú cùng gia đình giám sát, giáo dục cũng đủ để các bị cáo thấm thía về tội lỗi của mình mà ăn năn hối cải về sau.

Các bị cáo Lê Sỹ L, Thái Doãn V, Đặng Văn Q, Nghiêm Đức T, Trần Anh D tại thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên khi lượng hình được áp dụng thêm Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự quy định đối với người chưa thành niên phạm tội.

Bị cáo Lê Sỹ L phạm tội trong thời gian Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 16 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng chưa có hiệu lực pháp luật nên lần phạm tội này của bị cáo không bị coi là tái phạm. Đến nay bản án trên đã có hiệu lực pháp luật và bị cáo chưa chấp hành hình phạt của bản án trên nên cần tổng hợp hình phạt lần phạm tội này với hình phạt tại bản án nêu trên theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 55, Khoản 1 Điều 56 và Điều 104 Bộ luật hình sự

Đối với Ngô Đại Dương, sinh ngày 04/4/2008; Nguyễn Lê Nguyên, sinh ngày 25/6/2008; Đặng Quang V, sinh ngày 03/01/2009 cùng tham gia vào việc gây rối trật tự công cộng. Tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội các đối tượng trên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội này do dưới 16 tuổi. Cơ quan Cảnh sát điều tra, truy tố không đề cập xử lý hình sự đối với các đối tượng trên mà ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Đối với thương tích 01% của Ngô Đại Dương ở ngón chân trái, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không làm rõ được người gây thương tích cho Dương ngày 16/02/2024; mặt khác Dương không yêu cầu khởi tố vụ án, không yêu cầu giải quyết bồi thường đối với thương tích nên không xem xét trong vụ án này.

Về trách nhiệm dân sự:

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Trung Hiếu xác nhận đã được gia đình các bị cáo Lê Sỹ L, Thái Doãn V, Đặng Văn Q, Nghiêm Ðức T và Trần Anh D bồi thường theo thoả thuận với tổng số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) và không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) con dao dài 66cm và 01 (một) kiếm tự chế dài 84,5cm đều là công cụ phạm tội đã cũ hỏng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 29Y5 - 616.81 mà Ngô Đại Dương sử dụng liên quan đến việc phạm tội. Quá trình điều tra, xác minh là xe mô tô thuộc sở H hợp pháp của vợ chồng anh Vũ Tuấn Anh, chị Nguyễn Thị Vui (cậu ruột Dương); anh Anh, chị Vui không biết Dương sử dụng xe liên quan đến phạm tội nên cần trả lại chiếc xe mô tô này anh Anh, chị Vui.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 29Y5 - 683.18 mà Trần Anh D sử dụng liên quan đến việc phạm tội. Quá trình điều tra, xác minh là xe mô tô thuộc sở H hợp pháp của vợ chồng anh Trần Anh Tuấn, chị Nguyễn Thị Hệ (bố mẹ D); anh Tuấn, chị Hệ không biết D sử dụng xe liên quan đến phạm tội nên cần trả lại chiếc xe mô tô này anh Tuấn, chị Hệ.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 29D2 - 201.17 mà Thái Doãn V sử dụng liên quan đến việc phạm tội. Quá trình điều tra, xác minh là xe mô tô thuộc sở H hợp pháp của vợ chồng ông Thái Doãn Thuỷ, bà Phạm Thị Nhàn (bố mẹ V); ông Thủy, bà Nhàn không biết D sử dụng xe liên quan đến phạm tội nên cần trả lại chiếc xe mô tô này ông Thủy, bà Nhàn.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 29Y7 - 577.74 mà Nghiêm Đức T sử dụng liên quan đến việc phạm tội. Quá trình điều tra, xác minh là xe mô tô thuộc sở H hợp pháp của vợ chồng ông Nghiêm Đức Thường, bà Nguyễn Thị Hảo (bố mẹ T); ông Thường, bà Hảo không biết T sử dụng xe liên quan đến phạm tội nên cần trả lại chiếc xe mô tô này ông Thường, bà Hảo.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Q hội khóa 14.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo vị thành niên, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Sỹ L, Thái Doãn V, Đặng Văn Q, Nghiêm Đức T, Trần Anh D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; các điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; điểm a Khoản 1 Điều 55; Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 91; Khoản 1 Điều 101; Điều 104 Bộ luật hình sự, xử:

Phạt bị cáo Lê Sỹ L 18 (Mười tám) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.

Tổng hợp với hình phạt 16 (Mười sáu) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng tại bản án hình sự sơ thẩm số 139/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Lê Sỹ L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 34 (Ba mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2024 được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2023 đến ngày 15/8/2023 theo bản án hình sự sơ thẩm số 139/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. (Có Quyết định tạm giam kèm theo).

3. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 (Áp dụng thêm điểm t Khoản 1 Điều 51 đối với các bị cáo Nghiêm Đức T, Trần Anh D); Điều 54; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự, xử:

- Phạt bị cáo Thái Doãn V 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Phạt bị cáo Đặng Văn Q 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Phạt bị cáo Nghiêm Đức T 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Phạt bị cáo Trần Anh D 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Thái Doãn V cho Ủy ban nhân dân xã Đại T, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao các bị cáo Đặng Văn Q, Nghiêm Đức T cho Ủy ban nhân dân xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Trần Anh D cho Ủy ban nhân dân xã T Lợi, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Áp dụng điểm điểm a Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c Khoản 2 và điển b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) Con dao dài 66cm, phần chuôi dao bằng gỗ dài 20cm màu đỏ, phần lưỡi dao dài 46cm, bản rộng nhất 4,5cm, đầu dao nhọn, dao có vỏ bao bằng gỗ màu đỏ dài 54cm, rộng 6cm; 01 (một) kiếm tự chế dài 84,5cm, phần chuôi kiếm bằng gỗ dài 24,5cm màu nâu đỏ, đường kính 3,5cm, phần lưỡi kiếm dài 60cm, đầu nhọn, bản rộng 3cm, có vỏ bao màu đen bằng gỗ dài 63cm, rộng 4cm. Đều là công cụ phạm tội đã cũ hỏng không còn giá trị sử dụng.

- Trả lại cho vợ chồng anh Vũ Tuấn Anh, chị Nguyễn Thị Vui chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn xám đen, biểm kiểm soát 29Y5 - 616.81, có số máy: JF63E2455373, số khung: 6327KZ052081.

- Trả lại cho vợ chồng ông Trần Anh Tuấn, bà Nguyễn Thị Hệ chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen bạc, biểm kiểm soát 29Y5 - 683.18, có số máy: JA39E1477269, số khung: RLHJA3918LY139409.

- Trả lại cho vợ chồng ông Thái Doãn Thuỷ, bà Phạm Thị Nhàn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ, đen, bạc, biểm kiểm soát 29D2 - 201.17, có số máy: JA39E0519514, số khung: RLHJA3905HY544352.

- Trả lại cho vợ chồng ông Nghiêm Đức Thường, bà Nguyễn Thị Hảo chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh, đen, bạc, biểm kiểm soát 29Y7 - 577.74, có số máy: JA39E2376246, số khung: RLHJA3927MY255940.

Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội.

5. Áp dụng Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội quy ®Þnh vÒ mức thu, miÔn, gi¶m, thu nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n:

Buộc các bị cáo Lê Sỹ L, Thái Doãn V, Đặng Văn Q, Nghiêm Đức T và Trần Anh D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo vị thành niên có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ