vanban.org

Bản án 49/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 26/12/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy bản án hình s s th m số: 34/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc S n, tỉnh Hòa Bình, để điều tra lại.

Về án phí: Các bị cáo Bùi Thị H, Bùi Thị D và Bùi Văn T kh ng phải chịu án phí hình s phúc th m. Chuyển hồ s v án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc S n, tỉnh Hòa Bình để giải quyết theo thủ t c chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị H và đồng phạm Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Hủy bản án hình s s th m số: 34/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc S n, tỉnh Hòa Bình, để điều tra lại.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình s; Điều 358 Bộ luật Tố t ng hình s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-PT
Ngày: 26-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Trường

Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Túc

Bà Trần Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình t

phúc th m c ng khai v án hình s phúc th m th lý số: 62/2024/TLHS-PT ngày 04 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Thị H và đồng phạm do c kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình s s th m số 34/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc S n, tỉnh Hòa Bình.

Bị cáo có kháng cáo, không bị kháng nghị:

1. Bùi Thị H, sinh ngày 10/10/1999 tại Hòa Bình.

N i cư trú: xóm C, xã TM, huyện L, tỉnh Hòa Bình

Nghề nghiệp: Lao động phổ th ng; trình độ văn h a 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nữ; t n giáo: kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng Bùi Văn T, sinh năm 1974 và bà Bùi Thị D, sinh năm 1978; bị cáo c chồng Bùi Văn G, sinh năm 1993 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm tiền án: kh ng; tiền s : kh ng.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/10/2023 đến ngày 09/11/2023. Bị cáo bị áp d ng biện pháp cấm đi khỏi n i cư trú. C mặt.

2. Bùi Văn T, sinh ngày 01/9/1974 tại Hòa Bình.

N i cư trú: xóm B, xã A, huyện L, tỉnh Hòa Bình

Nghề nghiệp: Lao động phổ th ng; trình độ văn h a 6/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; t n giáo: kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng Bùi Văn C, sinh năm 1945 và bà Bùi Thị Dg, sinh năm 1944 (đã chết); bị cáo c vợ là Bùi Thị D, sinh năm 1978 và c 02 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án: Kh ng.

Tiền s : Ngày 30 tháng 10 năm 2023 bị UBND ã A phạt vi phạm hành chính về hành vi cản tr hoạt động của c quan, tổ chức.

Nhân thân: năm 2021 bị C ng an huyện Lạc S n phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/10/2023 đến ngày 09/11/2023. Bị cáo đang bị áp d ng biện pháp cấm đi khỏi n i cư trú. C mặt.

3. Bùi Thị D, sinh ngày 26/3/1978 tại Hòa Bình.

N i cư trú: xóm B, xã A, huyện L, tỉnh Hòa Bình

Nghề nghiệp: Lao động phổ th ng; trình độ văn h a 5/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nữ; t n giáo: kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng Bùi Văn M, sinh năm 1953 và bà Bùi Thị V, sinh năm 1957; bị cáo c chồng là Bùi Văn T, sinh năm 1974 và 02 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án: Không.

Tiền s : Ngày 30 tháng 10 năm 2023 bị UBND ã A phạt vi phạm hành chính về hành vi cản tr hoạt động của c quan, tổ chức.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/10/2023 đến ngày 09/11/2023. Bị cáo bị áp d ng biện pháp cấm đi khỏi n i cư trú. C mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Đào Xuân H – Luật sư c ng ty Luật TNHH VT – Thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.

Địa chỉ: phố B, phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. C mặt.

Các bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị:

4. Bùi Văn Đ, sinh ngày 08/9/1994 tại Hòa Bình; N i cư trú: m B, xã A, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động phổ th ng; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Bùi Văn T, sinh năm 1974; Mẹ đẻ: Bùi Thị D, sinh năm 1978; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình c 02 anh em; Vợ: Bùi Thị H2, sinh năm 1998; Con: c 01 con sinh năm 2020. Tiền án, tiền s : Kh ng; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/10/2023 đến ngày 08/11/2023.

Nhân thân: năm 2019 bị C ng an huyện Lạc S n phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau; năm 2020 bị C ng an huyện Lạc S n phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. C mặt.

5. Bùi Thị H1, sinh ngày 12/3/1989 tại Hòa Bình; N i cư trú: m Đ, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động phổ th ng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Bùi Văn C, sinh năm 1945; Mẹ đẻ: Bùi Thị Dg, sinh năm 1944 (đã chết); Bị cáo là con út trong gia đình c 08 anh chị em; chồng Bùi Văn Ch, sinh năm 1994; Con: c 02 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền án, tiền s : Kh ng; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/10/2023 đến ngày 09/11/2023. C mặt.

6. Bùi Văn D1, sinh ngày 12/7/1969 tại Hòa Bình; N i cư trú: m B, xã A, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động phổ th ng; Trình độ học vấn: 6/10; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Bùi Văn C, sinh năm 1945; Mẹ đẻ: Bùi Thị Dg, sinh năm 1944 (đã chết); Bị cáo là con thứ ba trong gia đình c 08 anh chị em; Vợ: Bùi Thị V, sinh năm 1971; Con: c 03 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 1999. Tiền án, tiền s : Kh ng; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/10/2023 đến ngày 09/11/2023.

Nhân thân: năm 2021 bị C ng an huyện Lạc S n phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

Là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 207-QĐ/UBKTHU ngày 03/6/2024 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy Lạc S n. C mặt.

7. Bùi Văn G, sinh ngày 12/12/1993 tại Hòa Bình; N i cư trú: m C, xã TM, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động phổ th ng; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Bùi Văn H, sinh năm 1968; Mẹ đẻ: Bùi Thị N, sinh năm 1968; Bị cáo là con út trong gia đình c 03 anh chị em; Vợ: Bùi Thị H, sinh năm 1999; Con: c 02 con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền s : Kh ng; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/10/2023 đến ngày 09/11/2023. Có mặt.

8. Bùi Xuân G1, sinh ngày 30/9/2007 tại Hòa Bình; N i cư trú: m C, xã TM, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Bùi Văn H3, sinh năm 1977; Mẹ đẻ: Bùi Thị Ng, sinh năm 1979; Bị cáo là con thứ 2 trong gia đình c 02 anh chị em; Vợ, con: chưa c ; Tiền án, tiền s : Kh ng. Có đ n in t vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Xuân G1: bà Bùi Thị Ng, sinh năm 1979. N i cư trú: xóm C, xã TM, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có đ n in t

vắng mặt.

- Đại diện Trường PTTH Đại Đồng huyện Lạc S n, tỉnh Hoà Bình: ng Bùi Văn T - Phó Hiệu trư ng. C đ n in t vắng mặt.

Ngoài ra còn có những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ s v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được t m tắt như sau:

Vào tháng 10 năm 2023, do mâu thuẫn về việc tranh chấp đất đai tại khu v c cổng C ng ty cổ phần BVN Hoà Bình, địa chỉ tại m B, xã A, huyện L, tỉnh Hoà Bình nên Bùi Văn T và vợ là Bùi Thị D, con trai Bùi Văn Đ, con gái Bùi Thị H đã bảo nhau về việc sẽ d ng hàng rào chắn trước cổng Công ty BVN Hoà Bình để cản tr các phư ng tiện ra vào c ng ty. Trong các ngày 20 và 25 tháng 10 năm 2023, Bùi Văn T, Bùi Thị D và Bùi Thị H đổ gạch đá, căng dây trước cổng c ng ty, với m c đích tạo s chú ý của chính quyền địa phư ng về v việc tranh chấp đất đai của gia đình mình. Đến ngày 30/10/2023, Bùi Văn Đ cùng bị cáo T và D tiếp t c th c hiện hành vi gây rối tại cổng c ng ty, ng T và bà D bị Uỷ ban nhân dân ã A phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật trên.

Đến khoảng 11 giờ 15 ngày 31/10/2023, Bùi Thị H điều khiển e m t

nhãn hiệu: HONDA, biển số: 28N1-294.30, đến cổng C ng ty Cổ phần BVN Hoà Bình. Khi đi đến n i thì H s d ng điện thoại cá nhân của H để phát video tr c tiếp trên nền tảng mạng ã hội facebook. Sau đ , H điều khiển e m t chặn trước cổng c ng ty. Khi đ , Bùi Thị H, Bùi Thị D và Bùi Văn T, đã chặn toàn bộ các e t tải đi vào c ng ty. Lúc sau, Bùi Văn D1 (là anh trai Bùi Văn T), đến cùng chặn. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì Bùi Văn T đi về. Sau đ , e ch nguyên liệu và vật liệu tiếp t c đi vào cổng C ng ty Cổ phần BVN Hoà Bình nên H và D tiếp t c ra chặn. Lúc này, H s d ng chiếc điện thoại gọi cho Bùi Văn G (là cH1 H) và gọi Bùi Thị H1 (là em gái Bùi Văn T), uống cùng chặn e t tải. Lúc sau, c thêm Bùi Xuân G1 cùng đến để th c hiện hành vi. Bùi Thị H, Bùi Thị D, Bùi Văn D1, Bùi Thị H1, Bùi Văn G, Bùi Xuân G1 cùng tham gia chặn e tải và cùng hò h t, ch i bới, úc phạm người khác trước cổng c ng ty, ph nữ thì nằm uống đường còn đàn ng thì ngồi uống đất hoặc đứng sát đầu e để chặn e, đồng thời s d ng 03 e m t , 01 bàn và 02 ghế bằng nh a, 01 chiếc che nắng hình tròn, thân bằng kim loại, đế hình tr tròn được đổ đầy bê t ng trong lốp e. Quá trình Bùi Thị H phát tr c tiếp trên Facebook, Bùi Văn Đ nhìn thấy c bình luận, cổ vũ và bảo Bùi Thị H tiếp t c th c hiện hành vi gây rối.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, C ng an huyện Lạc S n, tỉnh Hoà Bình, phối hợp với C ng an ã A, huyện Lạc S n, tỉnh Hoà Bình, đã tiến hành bắt quả tang đối với các bị cáo về hành vi Gây rối trật t c ng cộng.

Tại bản án hình s s th m số 34/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc S n, tỉnh Hòa Bình đã t quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Bùi Thị H, Bùi Văn T, Bùi Thị D phạm tội “Gây rối trật t c ng cộng”.

Áp d ng điểm d khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình s

phạt Bùi Thị H 24 (Hai mư i bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ.

Áp d ng điểm khoản 1 Điều 318; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình s

phạt Bùi Thị D 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ. X phạt Bùi Văn T 12 ( Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ.

Ngoài ra bản án s th m còn quyết định hình phạt đối với 05 bị cáo còn lại, chế định án treo, lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, các bị cáo Bùi Thị H, Bùi Văn T, Bùi Thị D kháng cáo xin hư ng án treo. Ngày 06/11/2024, Bị cáo Bùi Văn T và Bùi Thị D c đ n kháng cáo bổ sung với nội dung cho rằng trong quá trình điều tra, truy tố, t cấp s th m đã kh ng làm rõ những nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội của các bị cáo, đồng thời tố giác Điều tra viên, Kiểm sát viên nhận tiền của gia đình bị cáo để cho các bị cáo tại ngoại.

Tại phiên tòa h m nay, các bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, cho rằng các bị cáo bị oan. Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại phiên tòa s th m, ong các bị cáo cho rằng hành vi của các bị cáo là để bảo vệ quyền, lợi ích của gia đình bị cáo. Đề nghị Hội đồng t điều tra lại v án để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bị cáo.

Tại phiên tòa phúc th m Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Các bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.

Đối với kháng cáo của các bị cáo Bùi Thị H, Bùi Văn T, Bùi Thị D, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình c quan điểm như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố và t

cấp s th m chưa làm rõ vai trò của các bị cáo để ác định bị cáo nào là người kh i ướng, chủ mưu việc gây rối; ngoài việc bị cáo Bùi Thị H bị truy tố t theo điểm d khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình s với tình tiết tăng nặng định khung là úi gi c người khác phạm tội thì các tài liệu c trong hồ s thể hiện bị cáo Bùi Văn T, bị cáo Bùi Thị D, bị cáo Bùi Văn G có hành vi xúi gi c người khác phạm tội nhưng cấp s th m chưa em t, điều tra làm rõ để lý. Mặt khác, các hành vi gây rối trật t c ng cộng vào các ngày 20 và 25/10/2023 chưa được điều tra làm rõ. Như vậy, việc điều tra cấp s th m kh ng đầy đủ mà cấp phúc th m kh ng thể bổ sung được. Đề nghị Hội đồng t căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố t ng hình s hủy bản án hình s s th m số 34/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc S n, tỉnh Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình để điều tra, t lại theo thủ t c s th m.

Luật sư Đào Xuân H bào chữa cho các bị cáo nêu quan điểm: Các bị cáo đã c hành vi vi phạm pháp luật, tuy nhiên cần em t đến nguyên nhân, tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm để em t, lý trách nhiệm của các bị cáo cho phù hợp. Việc điều tra c dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Do vậy, đồng ý với đề nghị của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng t hủy án s th m để điều tra, t lại v án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu c trong hồ s v án, căn cứ vào kết quả tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:

Về tố t ng:

Hành vi, quyết định của C quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã th c hiện đúng về th m quyền, trình t , thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình s . Quá trình điều tra và tại phiên tòa s th m bị cáo kh ng c ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định tố t ng của C quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng.

Sau khi t s th m và trong thời hạn luật định các bị cáo có kháng cáo trong thời hạn, hợp lệ, được chấp nhận.

Đối với tố giác của bị cáo T và bị cáo D về hành vi vi phạm của Điều tra viên, Kiếm sát viên (nếu c ) chưa c căn cứ ảnh hư ng đến quá trình điều tra, truy tố hành vi phạm tội của các bị cáo.

Về nội dung:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa s th m các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa h m nay, các bị cáo cho rằng bị oan vì hành vi của các bị cáo là để bảo vệ quyền lợi của gia đình các bị cáo. Tuy nhiên, các bị cáo cũng đã thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm đã khai tại phiên tòa s th m là t nguyện, đúng th c tế. Do vậy c đủ c s để khẳng định:

Do mâu thuẫn về việc tranh chấp đất đai tại khu v c cổng C ng ty cổ phần BVN Hoà Bình. Ngày 31/10/2023, Bùi Văn T, Bùi Thị D, Bùi Thị H cùng các bị cáo khác đã c hành vi chặn e tải và cùng hò h t, ch i bới, úc phạm người khác trước cổng Công ty cổ phần BVN Hoà Bình, ph nữ thì nằm uống đường còn đàn ng thì ngồi uống đất hoặc đứng sát đầu e để chặn e và dùng nhiều c ng c , thủ đoạn khác để ngăn kh ng cho e tải ch hàng vào c ng ty, gây ùn tắc G1 th ng và gây đình trệ hoạt động của c ng ty.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ s v án. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Lạc S n xét x các bị cáo về tội Gây rối trật t c ng cộng theo Điều 318 Bộ luật Hình s là c căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo của các bị cáo.

Về vai trò của bị cáo Bùi Thị H: Tòa án cấp s th m ác định bị cáo H là người kh i ướng, người đưa ra chủ kiến về hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên, theo các tài liệu c trong hồ s v án, ngoài lời khai nhận của bị cáo H về vai trò kh i ướng và phân c ng những người trong gia đình chặn các phư ng tiện ra vào cổng C ng ty cổ phần BVN Hòa Bình (BL 470) thì còn có các lời khai khác thể hiện bị cáo kh ng phải là người kh i ướng, c thể, bị cáo khai: “Trước khi th c hiện hành vi chặn các phư ng tiện gây cản tr hoạt động c ng ty, gây rối trật t c ng cộng thì bị can và gia đình kh ng c bàn bạc gì với nhau, là do bố mẹ đẻ, anh chị em, bác trong gia đình cùng ra để tham gia chặn các phư ng tiện ... “ (BL 482) hay “Khi t i thấy bố mẹ và gia đình t i đi thì t i đi theo để giúp sức...” (468). Bị cáo Bùi Thị D khai do bức úc về việc kh ng được hư ng quyền lợi th a đất tại khu v c cổng c ng ty BVN Hòa Bình nên vợ cH1 t i c bàn bạc thống nhất với nhau là d ng hàng rào chắn ngang trước cổng công ty...(BL449, 452). Nhiều lời khai của bị cáo D, bị cáo H khai nhận ngày 31/12/2024 khi Bùi Thị H đang nhà thì nhận được cuộc điện thoại của Bùi Thị D gọi bị cáo ra chặn xe ra vào Công ty (BL07,08,469,487). Tại phiên tòa h m nay, bị cáo H và bị cáo T còn khai nhận, bị cáo T là người gọi bị cáo H ra cổng c ng ty để phát tr c tiếp trên mạng facebook. Mặc dù c mâu thuẫn trong lời khai của các bị cáo về vai trò người kh i ướng, chủ mưu th c hiện hành vi phạm tội nhưng cấp s th m kh ng điều tra, đối chất làm rõ là chưa đầy đủ, chặt chẽ.

Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn T: Quá trình điều tra, nhiều lời khai của bị cáo Bùi Văn T khai nhận bị cáo là người gọi điện bảo bị cáo Bùi Văn D1 (anh trai bị cáo T) ra cổng C ng ty để gây rối, chặn e ra vào công ty (BL419, 420, 421, 426). Lời khai trên của bị cáo T cũng phù hợp với lời khai của bị cáo Bùi Văn D1 khai rằng Bùi Văn T là người gọi bị cáo D1 lên cổng c ng ty để tham gia vào việc ngăn cản kh ng cho các phư ng tiện ra vào c ng ty (tại các BL 541, 543, 545, 547, 549). Ngoài ra, tại phiên tòa h m nay, bị cáo H và bị cáo T còn khai nhận, bị cáo T là người gọi bị cáo H ra cổng c ng ty để phát tr c tiếp trên mạng facebook.

Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Thị D: Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Thị D khai nhận bị cáo là người gọi điện bảo bị cáo Bùi Thị H (con gái bị cáo D) ra cổng C ng ty để gây rối, chặn e ra vào c ng ty (BL07). Nhiều lời khai của bị cáo Bùi Thị H khai nhận khoảng 11h15’ ngày 31/10/2023 khi H đang nhà thì được mẹ đẻ là Bùi Thị D gọi điện rủ đi vào C ng ty BVN Hòa Bình để chặn e nguyên liệu và vật liệu đi vào c ng ty (BL08, 469, 487).

Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn G: Quá trình điều tra, các lời khai của bị cáo Bùi Văn G đều khai nhận sau khi bị cáo H gọi điện bảo bị cáo G ra chặn cổng C ng ty BVN Hòa Bình thì bị cáo G gọi điện bảo bị cáo Bùi Xuân G1 ra cổng C ng ty để gây rối, chặn e ra vào c ng ty và bị cáo G nhận lời (BL564, 565, 566, 569, 570, 573, 574, 577, 578...). Lời khai trên của bị cáo G phù hợp với lời khai của bị cáo Bùi Xuân G1 khai tại các bản lấy lời khai, bản hỏi cung và bản t khai của bị cáo G1 khai rằng ngày 31/10/2023 khi G1 đang nhà thì nhận được cuộc gọi của Bùi Văn G bảo đi cùng uống C ng ty BVN Hòa Bình để tham gia cản tr các phư ng tiện t ch hàng h a của c ng ty (BL625,626,627,629,634,637, 638, 639, 640, 641...).

Căn cứ vào lời khai nhận của các bị cáo thấy rằng các bị cáo Bùi Văn T, Bùi Thị D và Bùi Văn G c dấu hiệu úi gi c người khác gây rối nhưng cấp s th m chưa điều tra làm rõ để lý theo quy định.

Từ những căn cứ và nhận định trên đây, Hội đồng t thấy rằng, việc điều tra cấp s th m kh ng đầy đủ mà cấp phúc th m kh ng thể bổ sung được. Do vậy, cần hủy toàn bộ bản án s th m, để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.

Lời bào chữa và đề nghị của luật sư phù hợp với đề nghị của Viện kiểm sát và nhận định của Hội đồng t nên được chấp nhận.

Đối với nội dung ghi trong đ n kháng cáo bổ sung của các bị cáo T và D cần được điều tra, xác minh làm rõ theo quy định của pháp luật, do vậy, Hội đồng t kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình em t, lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Do án s th m bị hủy nên các bị cáo không phải chịu án phí hình s phúc th m.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố t ng hình s ;

1. Hủy bản án hình s s th m số: 34/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc S n, tỉnh Hòa Bình, để điều tra lại.

2. Về án phí: Các bị cáo Bùi Thị H, Bùi Thị D và Bùi Văn T kh ng phải chịu án phí hình s phúc th m.

3. Chuyển hồ s v án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc S n, tỉnh Hòa Bình để giải quyết theo thủ t c chung.

Bản án phúc th m c hiệu l c pháp luật kể từ ngày 26/12/2024.

Cỡ chữ