vanban.org

Bản án 49/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Hoàng O.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Hoàng O được ly hôn ông Nguyễn Thanh P. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Hoàng O.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27-3-2024
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Diệu Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tấn Hậu.

Ông Trần Thanh Việt.

Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 27 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Hoàng O, sinh năm 1984. (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: tổ B, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

Địa chỉ: tổ F, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn bà Đỗ Thị Hoàng O có đơn xin xét xử vắng mặt và trong quá trình giải quyết vụ án có ý kiến trình bày như sau: bà và ông P thông qua quen biết và đi đến hôn nhân vào năm 2004, vợ chồng có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do ông P cờ bạc, số đề, cá độ đá banh và thiếu nợ nhiều lần nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, bà phải đi làm trả nợ cho ông P. Bà cũng khuyên ngăn, tha thứ cho ông P và tạo điều kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng nhiều lần nhưng không được, bà dọn về nhà cha mẹ ruột sống, vợ chồng không còn chung sống với nhau khoảng 01 năm nay. Nhận thấy tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông P.

- Về con chung: có 02 con chung tên là Nguyễn Đỗ Hữu K, sinh ngày 14/9/2006 và Nguyễn Đỗ Diễm K1, sinh ngày 24/11/2008. Sau khi ly hôn, bà O đồng ý để ông P trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, bà O yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K1, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi cháu K1.

- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có

- Bị đơn ông Nguyễn Thanh P vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông P đối với yêu cầu khởi kiện của bà O.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Bà Đỗ Thị Hoàng O yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh P. Ông P có nơi cư trú tại xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Đỗ Thị Hoàng O có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 23/02/2024. Bị đơn ông Nguyễn Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: bà O và ông P xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2023 đến nay. Bà O xác định không còn tình cảm với ông P, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm nên bà vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, bà O xác định không thể tiếp tục chung sống cùng với ông P, hôn nhân không hạnh phúc, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như không cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà O là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: có 02 con chung tên là Nguyễn Đỗ Hữu K, sinh ngày 14/9/2006 và Nguyễn Đỗ Diễm K1, sinh ngày 24/11/2008. Nhận thấy, từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau đến nay thì ông P là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, bà O là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu K1. Trong thời gian cháu K sống với cha đã ổn định về điều kiện sinh hoạt, môi trường học tập và ông P cũng không có văn bản trình bày ý kiến phản đối về việc nuôi dưỡng cháu K, đối với cháu K1 đã sống với mẹ đã ổn định về điều kiện sinh hoạt, môi trường học tập, tâm tư tình cảm của cháu cũng gắn liền với mẹ. Mặt khác, tại biên bản ghi ý kiến con chung ngày 23/01/2024 cháu K có nguyện vọng được sống với cha, cháu K1 có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho các cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu K cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu K1 cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Về cấp dưỡng nuôi con chung: do bà O không yêu cầu và không ghi nhận được ý kiến của ông P về việc yêu cầu bà O cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: ghi nhận ý kiến của bà O trình bày không có nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: bà O phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 235, Điều 238, Điều 271, Khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Hoàng O.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Hoàng O được ly hôn ông Nguyễn Thanh P.

- Về con chung:

Ông Nguyễn Thanh P được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Nguyễn Đỗ Hữu Khánh, sinh ngày 14/9/2006.

Bà Đỗ Thị Hoàng O được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Nguyễn Đỗ Diễm Kiều, sinh ngày 24/11/2008.

Bà Đỗ Thị Hoàng O cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Thanh P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Đỗ Diễm K1.

Ông Nguyễn Thanh P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Đỗ Thị Hoàng O trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Đỗ Hữu K.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Đỗ Thị Hoàng O phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001388 ngày 05/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà O đã nộp xong.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ