vanban.org

Bản án 49/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Thanh Tr.

Về hôn nhân: Nguyên đơn Trần Thị Thanh Tr được ly hôn với bị đơn Ngô Anh T. Về con chung: Giao con chung tên là Ngô Khả H, sinh ngày 06/11/2007 cho nguyên đơn Trần Thị Thanh Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Thanh Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________________
Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24/6/2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Liên và ông Lê Thanh Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ý – Thư ký TAND huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện VKSND huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa: Ông Hà Trọng Hiếu – Kiểm sát Viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 141/2024/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Trần Thị Thanh Tr, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Đội 9, thôn G, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: Ngô Anh T, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Thôn S, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên.

(Cùng có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Trần Thị Thanh Trương trình bày: Bà Tr và ông Ngô Anh T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Sơn Thành (nay là UBND xã S) vào ngày 26/5/2005. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc và sinh được 01 con chung thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung. Mặc dù hai bên gia đình cố gắng khuyên ngăn nhiều lần nhưng hai vợ chồng sống không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay, không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống. Nay bà Tr nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không tồn tại nên bà Tr yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Ngô Khả H, sinh ngày 06/11/2007, hiện nay con chung do bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà Tr yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Ngô Khả H, công việc hiện nay của bà Tr là công nhân thu nhập bình quân mỗi tháng là 7.000.000đ đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Bà Tr không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn ông Ngô Anh T có đơn trình bày thống nhất ly hôn với bà Tr, thống nhất giao con chung Ngô Khả H, sinh ngày 06/11/2007 cho bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng, ông T không cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu giải quyết tài sản nhưng ông T không đến Tòa án nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, vì mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Giao con chung tên là Ngô Khả H, sinh ngày 06/11/2007 cho nguyên đơn bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng; Bà Tr không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Các đương sự tranh chấp về ly hôn, là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Ngô Anh T có nơi cư trú hiện nay tại: Thôn S, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

[1.2] Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu của đương sự:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Trần Thị Thanh Tr và bị đơn Ngô Anh T tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân Sơn Thành (nay là UBND xã Sơn Thành Tây) vào ngày 26/5/2005 là hôn nhân hợp pháp. Bà Tr khai trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai và bị đơn ông Ngô Anh T cũng có ý kiến thống nhất ly hôn.

Như vậy, đủ cơ sở xác định, mâu thuẫn giữa bà Tr và ông T đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Thanh Tr như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

[2.2] Về con chung: Xét thấy, con chung tên Ngô Khả H, sinh ngày 06/11/2007, lâu này đã quen sống cùng bà Tr, hơn nữa cháu Hân có nguyện vọng ở với mẹ. Ông T cũng thống nhất giao con chung cho bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, để cháu Hân phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cần giao cháu Hân cho cho bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng.

[2.3] Về cấp dưỡng: Không có yêu cầu nên không xét.

[2.4] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn Trần Thị Thanh Tr phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Thanh Tr.

1. Về hôn nhân: Nguyên đơn Trần Thị Thanh Tr được ly hôn với bị đơn Ngô Anh T.

2. Về con chung: Giao con chung tên là Ngô Khả H, sinh ngày 06/11/2007 cho nguyên đơn Trần Thị Thanh Tr trực tiếp nuôi dưỡng.

Bị đơn Ngô Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Nguyên đơn Trần Thị Thanh Tr chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000895 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

4. Về kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ