vanban.org

Bản án 49/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H về việc “tranh chấp ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Ngọc H được ly hôn với bà Ngô Thị T. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 16/4/2015 và Nguyễn Ngọc Thảo Nhi, sinh ngày 21/12/2020 cho bà Ngô Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Ông Nguyễn Ngọc H cấp dưỡng nuôi con chung định kỳ hàng thán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc Hào – Ngô Thị Thùy"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H về việc “tranh chấp ly hôn”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22/05/2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH-TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ba

Bà Lê Thị Ánh Sáng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Diễm - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Long Thành - tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 922/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1992 (vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ S, khu H, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H trình bày:

Ông và bà Ngô Thị T kết hôn vào năm 2014, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Ông và bà T có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 16/4/2015 và Nguyễn Ngọc Thảo N, sinh ngày 21/12/2020. Ly hôn, ông yêu cầu giao cho bà Ngô Thị T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, ông cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 2.500.000 đồng/con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.

Về nợ chung: Không có.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Ngô Thị T vắng mặt nên không có ý kiến.

- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định pháp luật. Trong vụ án này, các đương sự được xác định đúng tư cách pháp lý, đảm bảo việc thu thập chứng cứ, việc cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 con chung là Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 16/4/2015 và Nguyễn Ngọc Thảo N, sinh ngày 21/12/2020 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông H đề nghị được cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 2.500.000 đồng/con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn bà Ngô Thị T, nhưng bà T vẫn vắng mặt không lý do, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Ngọc H và bà Ngô Thị T kết hôn vào năm 2014, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Đ, huyện Long T, tỉnh Đồng Nai, đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo ông H trình bày, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ thể hiện trong quá trình chung sống giữa ông H và bà T có phát sinh mâu thuẫn hay không thì địa phương không nắm được. Tuy nhiên, xét các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng ông Nguyễn Ngọc H và bà Ngô Thị T là có thật. Tòa án đã nhiều lần triệu tập và thông báo về phiên hòa giải để tạo điều kiện cho ông H và bà T hòa giải, hàn gắn đoàn tụ nhưng ông H vẫn cương quyết xin ly hôn còn bà T vắng mặt không lý do, cho thấy mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, bà T có thái độ bỏ mặc, không mong muốn hàn gắn tình cảm và mối quan hệ hôn nhân với ông H. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H.

Về con chung: Ông H và bà T có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 16/4/2015 và Nguyễn Ngọc Thảo N, sinh ngày 21/12/2020. Theo nội dung đơn khởi kiện, ông H yêu cầu giao cho bà Ngô Thị T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, ông H cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 2.500.000 đồng/con chung.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và giấy triệu tập làm việc đối với bà T để bà T có ý kiến về nội dung khởi kiện của ông H, trong đó có vấn đề về con chung, tuy nhiên bà T không đến tòa làm việc và không có ý kiến, do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai và các chứng cứ do ông H cung cấp cũng như các chứng cứ do tòa án thu thập để xem xét, giải quyết.

Xét thấy, theo ý kiến của cháu Nguyễn Ngọc Như Y trình bày tại bản tự khai thể hiện cháu có nguyện vọng muốn được ở cùng với bà T. Đối với cháu Nguyễn Ngọc Thảo N hiện đang còn nhỏ nên giao cho mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp. Do đó, giao 02 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục để đảm bảo sự phát triển tốt nhất về mặt thể chất cũng như tinh thần cho các cháu. Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà T không có yêu, tuy nhiên, ông H đề nghị được cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 2.500.000 đồng/con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Theo ông H trình bày thì tài sản chung ông và bà T tự thỏa thuận, giữa ông và bà T không có nợ chung. Bà T vắng mặt và không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Các đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết vấn đề tài sản chung và nợ chung bằng vụ án khác khi có tranh chấp.

Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H về việc “tranh chấp ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Ngọc H được ly hôn với bà Ngô Thị T.

Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 16/4/2015 và Nguyễn Ngọc Thảo Nhi, sinh ngày 21/12/2020 cho bà Ngô Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Ông Nguyễn Ngọc H cấp dưỡng nuôi con chung định kỳ hàng tháng với mức cấp dưỡng cho mỗi con chung là 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng.

Ông Nguyễn Ngọc H được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết, các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí sơ thẩm ông H đã nộp tại biên lai thu số 0008011 ngày 15/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Ông H còn phải nộp thêm số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Ông Nguyễn Ngọc H và bà Ngô Thị T được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật dân sự 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ