- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Ngô Thị L được ly hôn với anh Trương D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-6-2024 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cao Diễm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Đặng Văn Hai;
Nguyễn Phát Triển.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Vân An là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024 tại phòng xử án của trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 149/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11/4/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 5 và Quyết định hoãn phiên tòa số 287/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị L - Sinh năm: 1975. Địa chỉ: KDC chợ Nước Xoáy, ấp Hưng Mỹ Tây, xã Long Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Trương D - Sinh năm: 1984. Địa chỉ: 45 ấp Tân Thuận B, xã Tân Dương, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn Ngô Thị L trình bày:
- Về hôn nhân: Chị L và anh D do tìm hiểu quen nhau rồi đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Dương, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, cuộc sống thời gian đầu rất hạnh phúc nhưng về sau có nhiều điểm bất đồng cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc, trong đời sống hằng ngày thường phát sinh mâu thuẩn, không cùng tiếng nói anh D có tính gia trưởng, thường xuyên cự cải cũng có vài lần cải nhau thì anh D cũng có đánh chị L nhưng chị L không báo chính quyền địa phương, chị L đã nhiều lần khuyên nhưng anh D không thay đổi nên vợ chồng ly thân hơn khoảng đầu năm nay, không ai quan tâm đến ai, từ những nguyên nhân đó dẫn đến cuộc sống hôn nhân không đạt chị L nhận thấy tình cảm không còn nữa nay chị L xin được ly hôn với anh Trương D;
- Về con chung: không có.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Trương D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Xét thấy, việc tranh chấp về việc ly hôn giữa Ngô Thị L và Trương D theo quy định tại Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Ngô Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với Trương D để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử nên xét xử vắng mặt đối với Trương D theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị L và anh D có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp là theo quy định, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình sống chung có nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, anh D có tính gia trưởng, có vài lần cải nhau thì anh D cũng có đánh chị L nhưng chị L không báo chính quyền địa phương, chị L đã nhiều lần khuyên nhưng anh D không thay đổi nên vợ chồng ly thân khoảng đầu năm đến nay, không ai quan tâm đến, tình trạng hôn nhân của chị L và anh D như trên được chứng minh bằng hành động cụ thể là anh D không chấp hành các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án để được hòa giải đoàn tụ, bỏ mặt không ý kiến gì, đồng thời cố ý không chấp hành pháp luật. Mặc dù, Tòa án đã động viên nhưng chị L vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với anh D, mâu thuẩn của chị L và anh D là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, cho nên việc chị L yêu cầu ly hôn là thỏa mãn theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ.
[3] Về con chung: không có.
[4] Về tài sản chung: Chị Ngô Thị L không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về nợ chung: Chị Ngô Thị L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Nguyên đơn chị Ngô Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là có căn cứ, phù hợp với khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Ngô Thị L được ly hôn với anh Trương D.
2. Về án phí và tạm ứng án phí: Chị Ngô Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Ngô Thị L đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0001581, ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (chị Ngô Thị L đã nộp xong).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/6/2024). Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày, tính từ ngày bản án này được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND huyện LV; - CCTHADS huyện LV; - UBND xã Tân Dương; - Các đương sự; - Lưu HS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Cao Diễm |