vanban.org

Bản án 49/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Ngân hàng S).

Buộc ông Nguyễn Văn K phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số nợ tính đến ngày 29/5/2024 là 73.962.464 đồng (Bảy mươi ba triệu, chín trăm sáu mươi hai nghìn, bốn trăm sáu mươi bốn đồng), trong đó bao gồm: nợ gốc là 47.500.000 đồng, lãi trong hạn 22.800.000 đồng, lãi quá hạn 3.662.464 đồng, đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Vụ án dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Ngân hàng S).
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 49/2024/DS-ST
Ngày 29/5/2024
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Duyên và bà Trần Thị Mộng Lành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện An Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tỉnh Kiên Giang không tham gia phiên tòa.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ dân sự thụ lý số 179/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Trụ sở chính: Lầu 8, số 266-268 N, phường n, Quận x, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Chí T, chức vụ: Phó Trưởng phòng giao dịch huyện Châu Thành thuộc chi nhánh Kiên Giang.

Địa chỉ: Số 554 Quốc lộ 61, khu phố M, thị trấn M1, huyện C, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa án, đại diện nguyên đơn trình bày như sau:

Vào ngày 16/5/2019, ông Nguyễn Văn K có ký hợp đồng tín dụng số LD1913600360 và giấy nhận nợ số LD1913600360 ngày 16/05/2019 với Ngân hàng TMCP S (viết tắt Ngân hàng S), theo đó Ngân hàng S phòng giao dịch huyện Châu Thành Kiên Giang cấp tín dụng cho ông Nguyễn Văn K vay vốn như sau:

- Số tiền vay là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng);

- Lãi suất: 9,6%/năm;

- Thời hạn vay: 60 tháng (gốc trả cuối kỳ và lãi trả hàng tháng);

- Thời điểm trả hết nợ: 16/5/2024;

- Biện pháp bảo đảm: Vay tín chấp.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Văn K đã trả nợ gốc được 102.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh là 49.228.932 đồng, từ ngày 25/11/2022 trở đi ông Nguyễn Văn K không thực hiện trả nợ gốc, lãi theo hợp đồng mặc dù đã được Ngân hàng S đã nhiều lần nhắc nhở đôn đốc việc trả nợ. Từ ngày 19/6/2023 số nợ của ông Nguyễn Văn K đã chuyển sang nợ quá hạn.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Ngân hàng S yêu cầu ông Nguyễn Văn K thanh toán số nợ tính đến ngày 29/5/2024 là 73.962.464 đồng, bao gồm: Nợ gốc 47.500.000 đồng, lãi trong hạn 22.800.000 đồng, lãi quá hạn 3.662.464 đồng và yêu cầu tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến ngày trả hết nợ.

Ngân hàng S rút một phần yêu cầu khởi kiện, không tiếp tục yêu cầu phát mãi toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Nguyễn Văn K hoặc phải rút tiền bảo hiểm xã hội của ông Nguyễn Văn K để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Bị đơn ông Nguyễn Văn K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không gửi văn bản nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện, không có yêu cầu phản tố và không có ý kiến phản đối trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp là toàn bộ hồ sơ vay vốn, gồm: Hợp đồng tín dụng (bản photo); giấy đề nghị vay vốn (bản photo); giấy nhận nợ (bản photo); quyết định về việc bổ nhiệm viên chức vào ngạch giáo viên THCS hạng III của UBND huyện An Biên ngày 07/02/2017 (bản photo); giấy chứng minh + sổ hộ khẩu của ông Nguyễn Văn K (bản photo); Quyết định của giám đốc về việc ủy quyền tham gia tố tụng (Bản sao); giấy ủy quyền tham gia tố tụng (bản chính).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên toà đại diện của nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể không tiếp tục cầu phát mãi toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Nguyễn Văn K hoặc phải rút tiền bảo hiểm xã hội để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Căn cứ vào Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về nội dung vụ án:

Quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ vay từ hợp đồng tín dụng. Vì vậy, xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S, Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng số LD1913600360 ngày 16/05/2019 được ký kết trên tinh thần tự nguyện, được lập thành văn bản, hình thức, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội được xác định là hợp đồng hợp pháp. Kể từ thời điểm hợp đồng được xác lập các bên có trách nhiệm thực hiện những nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, nhận thấy: Theo giấy nhận nợ số LD1913600360, vào ngày 16/05/2019 Ngân hàng Sacombank đã thực hiện giải ngân cho ông Nguyễn Văn K vay số tiền 150.000.000 đồng trong thời hạn vay 60 tháng, giấy nhận nợ có chữ ký xác nhận nợ của ông Nguyễn Văn K. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án đã được biết yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S nhưng không có yêu cầu phản tố hay ý kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Theo trình bày và yêu cầu của Ngân hàng S xác định sau khi nhận được tiền vay đến ngày 25/11/2022 ông Nguyễn Văn K đã không tiếp tục thực hiện trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số LD1913600360 về việc trả gốc trả lãi, như vậy ông Nguyễn Văn K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay thuộc trường hợp đến kỳ trả nợ mà không trả nợ. Do đó xác định yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 280, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự từ đó cần buộc ông Nguyễn Văn K phải trả cho Ngân hàng S số nợ tính đến ngày 29/5/2024 là 73.962.464 đồng (Trong đó nợ gốc: 47.500.000 đồng, lãi trong hạn 22.800.000 đồng, lãi quá hạn 3.662.464 đồng) đồng thời tiếp tục phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng LD1913600360 ký ngày 16/5/2019 cho đến khi trả hết nợ.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S được chấp nhận nên buộc ông Nguyễn Văn K phải nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật là: 73.962.464 đồng x 5% = 3.698.123 đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng S số tiền đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm 1.835.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009002 ngày 06/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện An Biên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Các Điều 26, 35, 244, 144, 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 280, 463, 466 Bộ luật dân sự;

- Các Điều 90, 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng;

- Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Ngân hàng S).

Buộc ông Nguyễn Văn K phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số nợ tính đến ngày 29/5/2024 là 73.962.464 đồng (Bảy mươi ba triệu, chín trăm sáu mươi hai nghìn, bốn trăm sáu mươi bốn đồng), trong đó bao gồm: nợ gốc là 47.500.000 đồng, lãi trong hạn 22.800.000 đồng, lãi quá hạn 3.662.464 đồng, đồng thời tiếp tục phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng số LD1913600360 ngày 16/5/2019 cho đến khi trả hết nợ.

2. Đình chỉ xét xử yêu cầu phát mãi toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Nguyễn Văn K hoặc phải rút tiền bảo hiểm xã hội của ông Nguyễn Văn K để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc ông Nguyễn Văn K phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 3.698.123 đồng (Ba triệu, sáu trăm chín mươi tám nghìn, một trăm hai mươi ba đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm 1.835.000 đồng (Một triệu, tám trăm ba mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số số 0009002 ngày 06/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện An Biên.

3. Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 29/5/2024. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kề từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự"./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ