vanban.org

Bản án 49/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 03/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/4/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T - "Tàng trữ trái phép ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HSST
Ngày: 03/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Trần Anh Đức;

Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Dung và bà Vũ Thị Xuyến;

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Trung Nghĩa, Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố

Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa:

ông Nguyễn Quốc An – kiểm sát viên.

Ngày 03/7/2023, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí

xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 47/2023/HSST ngày 19/6/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐXXST-HS ngày 20/6/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức T, sinh ngày 15/6/1979 tại Q, Quảng Ninh; giới tính:

nam; nơi thường trú tại khu Q, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: tự do; học vấn: 01/12; bố là ông Nguyễn Đức S và mẹ là bà Hoàng Thị V; vợ là chị Nguyễn Thị T; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án: không; tiền sự: ngày 19/10/2021, bị Công an phường Đ, thành phố Hạ Long xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 25/4/2022. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 14/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, có mặt tại phiên tòa;

- Người làm chứng:

+ Anh Đinh Văn L, sinh năm 1991, địa chỉ tại tổ 5, khu C, phường P, thành

phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa;

+ Anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1969, địa chỉ tại tổ 1, khu H, phường P, thành

phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa;

+ Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1983, địa chỉ tại khu Q, phường M, thị xã Q,

tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/4/2023, tại tổ 2, khu H, phường P, thành phố

Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Đức T bị Công an thành phố Uông Bí bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,377 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai: Trưa ngày 14/4/2023, do

nảy sinh nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo bị cáo gọi điện thoại cho một người đàn ông không quen biết (do được bạn giới thiệu) hỏi mua 200.000 đồng ma túy loại Heroine, người này hẹn gặp bị cáo ở khu vực cầu Đá Bạc thuộc huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng để giao dịch. Bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14X1-280.91 đến cầu Đá Bạc gặp người bán ma túy, tại đây bị cáo đưa cho họ 200.000 đồng, người này chỉ chỗ để gói ma túy gần lan can cầu cho bị cáo, bị cáo đi đến thấy 01 gói giấy màu trắng, tin tưởng là ma túy cần mua nên bị cáo cất vào túi quần phía trước bên phải rồi về. Khi về đến khu vực cổng phụ nhà máy chế tạo thiết bị nâng hạ Quang Trung, bị cáo dừng xe, dùng tay trái lấy gói ma túy ra định đổi vị trí cất giấu thì bị công an phát hiện bắt quả tang.

Quá trình điều tra ngoài số ma túy bị thu giữ, bị cáo còn bị thu giữ 01 xe mô

tô Honda Lead biển kiểm soát 14X1-280.91 là tài sản riêng của vợ bị cáo là chị Nguyễn Thị T. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại Masstel bên trong gắn sim số 0387.672.296, đây là điện thoại và sim số bị cáo dùng liên lạc hỏi mua ma túy.

Tại phiên tòa bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại lời

nói sau cùng trước khi nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Người làm chứng là anh Đinh Văn L, Bùi Văn Đ, chị Nguyễn Thị T vắng mặt

tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp với tài liệu cơ quan điều tra thu thập được.

Tại bản kết luận giám định số 475/KL-KTHS ngày 19/4/2023 của Phòng kỹ

thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: mẫu vật thu giữ của bị cáo Trung gửi giám định là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,377 gam.

Tại cáo trạng số 47/CT-VKSUB ngày 15/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân

thành phố Uông Bí truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên

quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/4/2023.

- Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2

Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 475/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đỏ - đen. Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0387.672.296.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, điều tra viên,

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên

tòa về cơ bản giống với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố đối với bị cáo, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập được, vì vậy đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/4/2023, tại tổ 2, khu Hồng Hà, phường P,

thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Đức T bị Công an thành phố Uông Bí bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,377 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các

quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Chất ma túy là chất kích thích gây nghiện nguy hiểm cho xã hội nên việc quản lý, sử dụng chất ma túy phải tuân theo các quy định của pháp luật, trong vụ án này bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt:

Hình phạt chính:

Tiền án: không. Tiền sự: bị cáo có 01 tiền sự, ngày 19/10/2021, bị Công an

phường Đại Yên, thành phố Hạ Long xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 25/4/2022

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi

phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Sau khi xem xét hành vi phạm tội cùng nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết

tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tính răn đe giáo dục đối với bị cáo nói riêng và đảm bảo tính phòng ngừa tệ nạn ma túy trong xã hội nói chung.

Tuy nhiên, trong quá trình lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến

việc bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt, để từ đó bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta.

Về hình phạt bổ sung: khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định người

phạm tội có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có

tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ của bị cáo 01 xe mô tô

Honda Lead biển kiểm soát 14X1-280.91. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại Masstel bên trong gắn sim số 0387.672.296, ma túy hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 475/KL-KTHS ngày 19/4/2023.

Xét thấy: Xe mô tô là tài sản riêng của vợ bị cáo, khi mượn xe bị cáo không

nói rõ mục đích mượn xe cho vợ biết, chiếc xe cũng được cơ quan điều tra trả lại cho vợ bị cáo nên không đề cập giải quyết. Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Điện thoại và sim số là phương tiện liên lạc hỏi mua ma túy nên cần sung quỹ nhà nước đối với chiếc điện thoại, còn sim số không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, hiện không rõ lai lịch địa

chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình

sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ

ngày tạm giữ 14/4/2023.

Về vật chứng:

Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2

Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 475/KL-KTHS của Phòng Kỹ

thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đỏ - đen. Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0387.672.296.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/6/2023 giữa

Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Uông Bí)

Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều

23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng

cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ