vanban.org

Bản án 49/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 20/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị K phạm tội Lừa đảo Cếm đoạt tài sản.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị K: 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 15/11/2022. * Về trách nhiệm dân sự: Chị Võ Hoàng D có trách nhiệm hoàn trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị K số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị K lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị K phạm tội Lừa đảo Cếm đoạt tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HSST
Ngày: 20/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Xuân Thu;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lương Công Hạnh và ông Huỳnh Khắc Hiếu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐST - HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị K, sinh năm 2000. Nơi ĐKHKTT và chổ ở: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Cha: không xác định; Mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1970. Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giam ngày 15/11/2022. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Chị Võ Hoàng D, sinh năm 1989; có mặt.

Địa chỉ: 38/15 đường N, phường Y, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thụy T, sinh năm 1996;

Địa chỉ: 154 đường Đ, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên.

2. Chị Châu Thị K, sinh năm 1992;

Địa chỉ: 81 đường T, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

3. Anh Nguyễn Trung N, sinh năm 1995;

Địa chỉ: khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

4. Anh Huỳnh Minh T sinh năm 1988;

Địa chỉ: 120 đường H, phường L, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

5. Anh Đặng Việt T, sinh năm 2001;

Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện L, tỉnh Khánh Hòa.

Chổ ở: Ký túc xá Trường đại học xây dựng M, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2022, thông qua mạng xã hội Facebook, Nguyễn Thị K có quen biết với chị Võ Hoàng D, cả hai thường đi chơi chung và trở nên thân thiết với nhau. Do hết tiền tiêu xài và trong thời gian ở tại nhà chị D, biết được chị D có nhiều tiền nên K đã nảy sinh ý định Kếm đoạt tiền của chị D. K đưa ra thông tin gian dối là có anh họ tên Trần Văn C làm Giám đốc Công ty bất động sản ở Nha Trang, Đà Lạt và giới thiệu anh C làm quen với chị D, chị D đồng ý. Vào tháng 4/2022, K lập tài khoản Zalo tên “Cường Trần” và dùng tài khoản này kết bạn, nhắn tin thường xuyên với chị D, rủ chị D vào làm công ty, hứa hẹn sẽ trả tiền lương, tiền hoa hồng nhằm tạo lòng tin để chiếm đoạt tiền của của chị D 04 lần với tổng số tiền là 8.400.000đ. Cụ thể:

- Lần 1: Ngày 27/4/2022, K dùng tài khoản zalo “Cường Trần” nhắn tin mượn D số tiền 1.500.000đ, nhờ D chuyển số tiền này đến số tài khoản số 1012709358 tên Nguyễn Trung N (tài khoản của dịch vụ Tuy Hòa ship) để đóng tiền học cho con. D tin là thật nên đã chuyển khoản theo yêu cầu của “Cường Trần”. Sau đó, K liên hệ với dịch vụ Tuy Hòa ship nhận số tiền này và tiêu xài cá nhân.

- Lần 2: Tháng 3/2022, K có đặt mua online một bánh kem giá 160.000đ của chị Nguyễn Thụy T. Ngày 28/4/2022, K dùng tài khoản zalo “Cường Trần” nhắn nói với D là sẽ đưa chị D cùng con đi công tác ở Thái Lan thì D cho biết hộ chiếu của con gái D đã hết hạn nên không đi được. “Cường Trần” nói có người quen sẽ giúp làm nhanh hộ chiếu và yêu cầu D chuyển khoản 2.000.000đ vào tài khoản số 0751000047889 tên Nguyễn Thụy T để bồi dưỡng. D tin là thật nên đã chuyển khoản số tiền trên theo yêu cầu của “Cường Trần”. Sau đó, K nhắn cho Tn nói đã chuyển nhầm số tiền bánh và yêu cầu T chuyển trả lại 1.840.000đ tiền thừa vào tài khoản ngân hàng của K. Sau khi T chuyển trả số tiền này, K đã tiêu xài hết.

- Lần 3: Ngày 30/4/2022, K dùng tài khoản zalo “Cường Trần” nhắn cho D yêu cầu D chuyển thêm 3.500.000đ vào số tài khoản 0751000062316 tên Châu Thị K (tài khoản của dịch vụ Tuy Hòa Ship) để bồi dưỡng tiền làm hộ chiếu. D tin là thật nên đã chuyển số tiền trên theo yêu cầu của “Cường Trần”. Sau đó, Tuy Hòa Ship đã chuyển số tiền 3.460.000đ (trừ 40.000đ tiền phí dịch vụ) vào tài khoản ngân hàng của K, K đã chiếm đoạt tiêu xài hết.

- Lần 4: Ngày 11/5/2022, K dùng tài khoản zalo “Cường Trần” nhắn tin mượn D số tiền 1.400.000đ để gửi hộ tiền cho nhân viên công ty, nhờ D chuyển vào tài khoản số 7777783456789 tên Huỳnh Minh T (số tài khoản của dịch vụ Ship nhanh Tuy Hòa). D tin là thật nên đã chuyển khoản theo yêu cầu của “Cường Trần”. Sau đó, K liên hệ với dịch vụ Ship nhanh Tuy Hòa nhận số tiền 1.400.000đ và đã tiêu xài hết.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn kết luận: Từ ngày 22/4/2022 đến ngày 25/4/2022 do muốn đi chơi Đà Lạt nên K đã dùng tài khoản zalo “Cường Trần” nhắn rủ D đi công tác cùng K ở Đà Lạt để gặp đối tác bất động sản, toàn bộ chi phí chuyến đi “Cường Trần” sẽ chi trả và nhờ D ứng trước khoản chi phí này. Trong chuyến đi Đà Lạt, D đã bỏ ra 5.000.000đ để chi trả các khoản chi phí đi lại và ăn uống của K và D. Cơ quan điều tra quy kết K đã có hành vi chiếm đoạt khoản tiền 5.000.000đ này của chị D.

- Vật chứng vụ án: đang tạm giữ chờ xử lý 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng đồng, số máy MG903LL/A, số seri F2LDL85B041 gắn sim số 0327754401 và 0978993834.

Cáo trạng số 39/CT - VKSTH ngày 08/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định khoản 1, Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa trình bày lời luận tội và đề nghị: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung cáo trạng, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị K phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo K từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2022. Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận sự tự nguyện bị hại trả lại cho bị cáo 1.000.000đ; về vật chứng: trả lại bị cáo 01 điện toại di động bị thu giữ vì không liên quan đến tội phạm; về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

- Bị cáo Nguyễn Thị K trình bày diễn biến hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình sai trái nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do muốn đi chơi Đà Lạt, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để chị D bỏ ra 5.000.000đ chi trả các khoản chi phí đi lại và ăn uống của bị cáo và D trong chuyến đi, gây thiệt hại cho D 5.000.000đ chứ không có chiếm đoạt số tiền trên của D. Bị cáo đã bồi thường cho chị D 14.400.000đ nên đề nghị chị D trả lại cho bị cáo số tiền 1.000.000đ mà bị cáo bồi thường dư so với thiệt hại gây ra.

- Bị hại Võ Hoàng D trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xét xử hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định pháp luật. Bị cáo K bồi thường 14.400.000đ nên đồng ý trả lại cho bị cáo số tiền 1.000.000đ .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thu thập chứng cứ và các hoạt động tố tụng khác đảm bảo đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng nên không nhận xét gì thêm.

Về tội danh và khung hình phạt: Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp, đủ cơ sở kết luận:

Trong thời gian từ ngày 27/4/2022 đến ngày 11/5/2022 trên địa bàn thành phố Tuy Hòa, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Thị K đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối có anh họ tên Trần Văn C làm Giám đốc Công ty bất động sản ở Nha Trang, Đà Lạt; sau đó K lập tài khoản Zalo tên “Cường Trần” và dùng tài khoản này kết bạn, nhắn tin thường xuyên với chị Võ Hoàng D và nhiều lần yêu cầu chị D chuyển khoản tiền cho “Cường Trần” qua các chủ tài khoản khác, sau đó yêu cầu chủ tài khoản chuyển khoản lại cho K, tổng cộng số tiền chiếm đoạt của chị D là 8.400.000đ. Hành vi nêu trên của bị cáo K phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi của bị cáo K là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có sức khoẻ nhưng lười lao động, vì muốn có tiền tiêu xài mà dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác 04 lần với tổng cộng số tiền chiếm đoạt là 8.400.000đ, trong đó có 02 lần chiếm đoạt số tiền từ 2.000.000đ trở lên nên thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần quy đinh tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bô luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã bồi thường cho người bị hại nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về đặc điểm nhân thân: Bị cáo K có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Do muốn đi chơi Đà Lạt, bị cáo K dùng thủ đoạn gian dối để D bỏ ra 5.000.000đ chi trả các khoản chi phí đi lại và ăn uống của K và D trong chuyến đi. Tuy nhiên, hành vi nêu trên của bị cáo gây thiệt hại cho chị D 5.000.000đ chứ không chiếm đoạt số tiền 5.000.000đ của chị D.

Về trách nhiệm dân sư: bị cáo K gây thiệt hại cho D tổng cộng 13.400.000đ, nhưng bị cáo đã bồi thường cho D 14.400.000đ, nên nay bị cáo yêu cầu D phải hoàn trả lại 1.000.000đ là phù hợp và D cũng đồng ý. Do đó, chị D có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền 1.000.000đ cho bị cáo K.

Về vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc bị cáo phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị K phạm tội Lừa đảo Cếm đoạt tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị K: 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 15/11/2022.

* Về trách nhiệm dân sự: Chị Võ Hoàng D có trách nhiệm hoàn trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị K số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng).

* Về vật chứng vụ án: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng đồng, số máy MG903LL/A, số seri F2LDL85B0D41, gắn sim số 0327754401 và 0978993834 (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 3 năm 2023 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tuy Hoà và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà).

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Thị K phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ