- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Cảnh L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh L 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 24 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” Áp dụng điều 55 bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung cho 2 tội buộc bị cáo phải chấp hành là 39 (ba mươi chín) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; luật hình sự tổng hợp hình phạt chung; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2023/HSST Ngày:28/06/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Viết Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Huệ và bà Nguyễn Thị Thanh.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Nguyễn Ngọc Thanh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hồ Diên Khoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 06 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2023/HSST ngày 19 tháng 05 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/HSST-QĐ ngày 14 tháng 06 năm 2023 đối với bị cáo:
- Nguyễn Cảnh L -Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 3 năm 1990, tại huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Làng Lâm Sinh, xã Nghĩa Yên, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An;Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Cảnh L, sinh năm 1959 ( Đã chết) và bà: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1960. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Vợ, con: Chưa có Tiền sự: Không; Tiền án: Năm 2021, bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xử phạt 7 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”; Nhân thân: Năm 2010, bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2023 đến nay. Có mặt.
- Người bị hại: 1. Anh Dương Văn Th, sinh năm 1989, trú tại xóm Tân An, xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Có mặt. 2. Anh Hồ Việt D, sinh năm 1976, trú xóm Hồng Thái, xã Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Có mặt. 3. Anh Bùi Hữu G, sinh năm 1985, trú tại xóm Trung Thịnh, xã Nghĩa Hiếu, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 1. Chị Hồ Thị X, sinh năm 1985, trú tại xóm Sơn Thành, xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 11/12/2022, Nguyễn Cảnh L đi đến nhà anh Dương Văn Th, sinh năm 1989, trú tại xóm Tân An, xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An để chơi, nhưng không có ai ở nhà. L ngồi chơi khoảng 15 phút thì thấy anh Th cùng vợ đi xe máy nhãn hiệu HonaWaveAlpha, màu đen-bạc, Biển kiểm soát:37G1-77061 về nhà. L ngồi nói chuyện với anh Th một lúc rồi hỏi anh Th mượn xe máy để đi về nhà. Anh Th đồng ý cho L mượn chiếc xe máy nhãn hiệu WaveAlpha, màu đen-bạc, Biển kiểm soát:37G1-77061 của anh Th đi về nhà ở của mình tại làng Lâm Sinh, xã Nghĩa Yên, huyện Nghĩa Đàn. Do không có tiền tiêu xài nên L nảy sinh ý định đi cắm xe máy anh Th cho mượn để lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi L đang đi trên Quốc lộ 48 đoạn thuộc khu vực xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp thì thấy một người đàn ông khoảng 40 tuổi, mặc quần màu đen, áo ấm màu đỏ đang đứng bên đường. L dùng xe bên cạnh người đó và đứng nói chuyện một lúc, người đàn ông này nói với L tên là “ Mười” và có đưa cho L số điện thoại sau đó L cắm chiếc xe máy của anh Dương Văn Th cho người đàn ông đó lấy 1.500.000 đồng, số tiền này L đã tiêu xài hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 13 giờ ngày 03/02/2023, Nguyễn Cảnh L đi xe máy về đến xóm Xuân Phong, xã Nghĩa Hưng, huyện Nghĩa Đàn thì xe máy bị hỏng nên L đưa xe máy vào sửa ở tiện sửa xe máy gần đó. Chủ tiệm sửa xe nói với L xe bị bó biên nên không sửa nhanh được, hẹn ngày mai đến lấy. L xin đi nhờ xe của người đi đường để về nhà, khi đi qua xã Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Đàn thì L xuống xe đi bộ vào nhà anh Hồ Viết D, sinh năm 1976, trú xóm Hồng Thái, xã Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Đàn chơi. L ngồi chơi, sau đó ăn cơm uống rượu tại nhà anh D. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày do không có xe máy để về nên L hỏi mượn xe máy của anh D để đi về nhà thì anh D đồng ý cho L mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha JUPITER, màu đen- trắng, mang BKS: 37X7-7198. Sau khi mượn được xe, L không về nhà mà đi thẳng lên khu vực thị trấn Quỳ Hợp, huyện Quỳ Hợp chơi. Do không có tiền tiêu xài nên L nảy sinh ý định cắm chiếc xe của anh D để lấy tiền tiêu xài. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi đang điều khiển xe máy của anh D đi trên đường tại khu vực đèn xanh, đèn đỏ thuộc thị trấn Quỳ Hợp, huyện Quỳ Hợp thì L gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, mặc áo ấm màu đen đang đi bộ trên đường. L dừng lại nói chuyện với người đó và nhờ người đó cắm chiếc xe máy L mượn của anh D thì người đó đồng ý. Hai người thống nhất cắm chiếc xe đó với giá 500.000 đồng và hẹn với nhau sáng hôm sau gặp ở khu vực này để chuộc lại xe. L đưa cho người đàn ông đó chiếc xe máy L mượn của anh D và người đàn ông đó đưa cho L 500.000 đồng. Sau khi cắm xe lấy số tiền 500.000 đồng thì L tiêu xài hết và không chuộc lại xe.
Vụ thứ 3: Vào trưa ngày 12/02/2023, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Cảnh L đã đi xe khách từ huyện Quỳ Châu xuống khu vực xã Nghĩa Hiếu, huyện Nghĩa Đàn rồi xuống xe đi bộ tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến khu vực nhà anh Bùi Hữu G, sinh năm 1985, trú tại xóm Trung Thịnh, xã Nghĩa Hiếu, huyện Nghĩa Đàn cạnh Quốc lộ 48, phía ngoài có Gara nhà anh G có dựng một chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu vàng đen, biển kiểm soát 37Z5-7105 có cắm sẵn chìa khóa. Nguyễn Cảnh L quan sát xung quanh thấy không có ai trông coi, quản lý nên L đã lén lút tiến đến chiếc xe máy, mở khóa điện rồi điều khiển xe máy chạy theo quốc lộ 48 hướng lên Quỳ Hợp để tìm nơi tiêu thụ. Sau khi trộm được xe máy, L đi đến tiện bán sát vụn của chị Hồ Thị X, sinh năm 1985, trú tại xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp nằm trên đường Quốc lộ 48 thuộc địa phận xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp để bán xe máy trộm được. Qua trao đổi thì L nói với chị X xe của L nhưng mất giấy tờ nên chị X đồng ý mua. Nguyễn Cảnh L bán chiếc xe máy trộm được cho chị X với giá 1.500.000 đồng. Số tiền bán được xe máy L đã tiêu xài hết. Sau khi biết chiếc xe máy nay do Nguyễn Cảnh L trộm cắp mà có, chị Hồ Thị X đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/ HĐĐGTS ngày 14/03/2013 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Nghĩa Đàn kết luận:
- Một chiếc xe máy nhãn hiệu honda wave màu trắng, biển kiểm soát 37Z5-7105 ( Xe nguyên bản màu vàng đen, tuy nhiên đã được thay thế, sửa chữa), xe đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm ngày 12/02/2023 là 5.000.000 đồng.
- Một chiếc xe máy nhãn hiệu honda wave, màu đen bạc, biển kiểm soát 37G1-77061, xe đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 11/12/2022 có trị giá 9.000.000 đồng
- Một chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, jupiter, màu đen trắng, biểm kiểm sát 37X7-7198, xe đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 03/02/2023 có trị giá là 8.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Cảnh L thực hiện hành vi trộm cắp ngày 12/02/2023 có trị giá là 5.000.000 đồng.
Tổng số tài sản Nguyễn Cảnh L đã lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt ngày 11/12/2022 và ngày 03/02/2023 có trị giá là 17.000.000 đồng.
Cáo trạng số 46/CT-VKSNgĐ ngày 18 tháng 05 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố bị cáo Nguyễn Cảnh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Nghĩa Đàn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm h khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh L từ 09 -12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 175 ; điểm h, g khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 BLHS; xử phạt Nguyễn Cảnh L từ 24 -30 tháng tù về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” . Áp dụng điều 55 BLHS:Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội là từ 33 đến 42 tháng tù.Về dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại của những người bị hại và bị cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét. Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luât.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Cảnh L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra và đã được thẩm tra lại tại phiên tòa hôm nay. Từ đó xác định được: Ngày 12/02/2023, Nguyễn Cảnh L đã vào nhà anh Bùi Hữu G, trú tại xóm Trung Thịnh, xã Nghĩa Hiếu, huyện Nghĩa Đàn thực hiện hành vi trộm cắp một chiếc xe máy của anh nhãn hiệu honda wave màu trắng, biển kiểm soát 37Z5-7105 của anh Bùi Hữu G, sinh năm 1985, trú tại xóm Trung Thịnh, xã Nghĩa Hiếu, huyện Nghĩa Đàn có trị giá 5.000.000 đồng. Cuối tháng 11/12/2022 Nguyễn Cảnh L đã có hành vi mượn một chiếc xe máy nhãn hiệu HonaWaveAlpha, màu đen- bạc, biểm kiểm soát 37G1-77061 của anh Dương Văn Th, sinh năm 1989, trú tại xóm Tân An, xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An đưa đi cắm lấy tiền tiêu xài. Chiếc xe máy có trị giá 9.000.000 đồng; Ngày 03/02/2023, Nguyễn Cảnh L có hành vi Mượn một chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha JUPITER, màu đen- trắng, mang BKS 37X7-7198 của anh Hồ Viết D, sinh năm 1976, trú xóm Hồng Thái, xã Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Đàn đưa đi cắm cho một người không quen biết lấy tiền tiêu xài cá nhân. Chiếc xe máy có trị giá 8.000.000 đồng. Tổng số tiền mà Nguyễn Cảnh L lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt của anh Dương Văn Th và anh Hồ Viết D vào ngày 11/12/2022 và ngày 03/02/2023 là 17.000.000 đồng; Như vậy, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Cảnh L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” và tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 173 và khoản 1 275 Bộ luật Hình sự như cáo trạng quy kết là có căn cứ pháp luật.
Đây là vụ án do bị cáo Nguyễn Cảnh L thực hiện với lỗi cố ý đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của anh Dương Văn Th, anh Hồ Việt D, anh Bùi Hữu G gây mất trật tự trị an tại địa phương do vậy cần phải xử lý nghiêm.
Xét tình tiết tăng nặng: Bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm theo điểm h, g khoản 1 điều 52 BLHS.
Xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về nhân thân: bị cáo đã có 02 lần bị Tòa án kết án một lần chưa được xóa án tích nên cũng xem xét nhân thân khi lượng hình. .
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về dân sự: Tại phiên tòa những người bị hại: anh Bùi Hữu G yêu cầu Nguyễn Cảnh L bồi thường số tiền 2.000.000 đồng. Anh Dương Văn Th yêu cầu bồi thường số tiền 9.000.000 đồng và anh Hồ Việt D yêu cầu bồi thường số tiền 8.000.000 đồng. Bị cáo L chấp nhận tất cả yêu cầu của người bị hại. Đây là sự thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định của pháp luật cần ghi nhận. Chị Hồ Thị X là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên hội đồng xét xử không xem xét.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng : đối với chiếc quần bò, áo phông và đôi dép thu của bị cáo không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 điều 175; điểm s khoản 1 điều 51; điểm g, h khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh L 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 24 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” Áp dụng điều 55 bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung cho 2 tội buộc bị cáo phải chấp hành là 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/03/2023.
- Vê trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 584, điều 585, điều 586, điều 589 Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Cảnh L phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho những người sau đây:
+ Bồi thường cho anh Bùi Hữu G số tiền 2.000.000 đồng. Bồi thường cho anh Dương Văn Th số tiền 9.000.000 đồng. Bồi thường cho anh Hồ Việt D số tiền 8.000.000 đồng tiền thiệt hại về tài sản.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định của Điều 357 và Điều 468 - BLDS tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự :
+ Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần bò, 01 chiếc áo sơ mi, 01 đôi dép da có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/05/2023 giữa cơ quan cảnh sát công an huyện Nghĩa Đàn và Chi cục Thi hành án huyện Nghĩa Đàn.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Nguyễn Cảnh L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 950.000 đồng tiền án phí dân sự sư thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, những người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao hoặc ngày niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND cấp xã nơi b/c cư trú; - Sở Tư pháp; - TAND tỉnh; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Viết Hà |