vanban.org

Bản án 49/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 25/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố các bị cáo N.A.Ng và N.Ng.

[1.1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt N.A.Ng 02 (hai) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "2 bị cáo bị truy tố về tội Trộm cắp ts - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố các bị cáo N.A.Ng và N.Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN NAM,
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49 /2023/HSST
Ngày 25/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Hòang Văn Tâm

2. Ông Thông Minh Tấn

- Thư ký phiên tòa: ông Ngô Duy Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 25/5/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2023/HSST ngày 21/3/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HS ngày 06/4/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: N.A.Ng; không có tên gọi khác; iới t nh: Nam; Sinh năm: 1993, tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: thôn 1, xã H.L, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: làm nông; con của ông: Nguyễn Văn Ngọn - sinh năm: 1972; làm nông; con của bà: Võ Thị Luỹ - sinh năm: 1972; đã chết; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ: N.Th.M.D – sinh năm: 1995; Nghề nghiệp: Công nhân; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014, Tất cả có HKTT tại: thôn 1, xã H.L, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận;

Tiền án: Không;

Tiền sự: 03

+ Ngày 29/7/2021 bị Công an xã H.L, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng, theo Quyết định số: 0019419/QĐ-XPVPHC, về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 15/12/2021.

+ Ngày 05/5/2022 bị Công an xã H.L, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng, theo Quyết định số: 0004039/QĐ-XPVPHC, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, đến nay vẫn chưa nộp tiền phạt nên chưa được coi là đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

+ Ngày 20/7/2022 bị Công an xã H.L, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng, theo Quyết định số: 00018907/QĐ-XPVPHC, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, đến nay vẫn chưa nộp tiền phạt nên chưa được coi là đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Nhân thân:

+ Ngày 30/12/2022, N.A.Ng bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 135/2022/HS-ST.

+ Ngày 16/02/2023, N.A.Ng bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 22/2023/HS-ST.

N.A.Ng hiện đang chấp hành án tại Trại giam Thủ Đức đối với bản án số 135/2022/HS-ST và bản án số 22/2023/HS-ST về tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”. bị cáo có mặt tại phiên tòa

2. Họ và tên: N.Ng.S; Tên gọi khác: Quậy; iới t nh: Nam; Sinh năm: 1995, tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: thôn 5, xã H.L, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; com của ông: Nguyễn Trung Tài - sinh năm 1964; làm nông; con của bà: Nguyễn Thị Nhỏ - sinh năm 1965; làm nông; ia đình có 04 chị, em ruột, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2002, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị Bích Vân - sinh năm 1996; Nghề nghiệp: làm nông; Con: 01 người, sinh năm 2016; tất cả có HKTT tại: thôn 5, xã H.L, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/02/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hàm Thuận Nam cho đến nay. bị cáo có mặt tại phiên tòa

- bị hại:

N.H.Q – 1994 (vắng mặt) Địa chỉ: thôn Dân Thuận, xã H.Th, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

- Người có Q lợi nghĩa vụ liên quan:

N.Th.M.D – 1995 (vắng mặt) Nơi cư trú: thôn 1, xã H.L, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng:

Ph.V.H – 2003 (vắng mặt) Địa chỉ: thôn 5, xã H.L, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Các bị cáo N.A.Ng và N.Ng.S bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 02/7/2022, N.A.Ng nhắn tin thoại cho N.Ng.S (tên gọi khác Quậy), rủ S đi trộm cắp tài sản (là dây điện trông đèn thanh long) để bán lấy tiền tiêu sài thì S đồng ý. Sau đó, Ng điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86L2-3341 đến nhà ông Nguyễn Văn S1 (tên thường gọi Ch n), sinh năm 1976 (trú thôn 5, xã H.L, huyện Hàm Thuận Bắc) chơi. Tại đây, Ng và S gặp Phạm Văn Hoà (tên thường gọi Tèo nhỏ), sinh năm 2003 (trú thôn 5, xã H.L, huyện Hàm Thuận Bắc) nên rủ Hoà cùng tham gia. Lúc này, Ng nói với ông S1 cho Ng mượn xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) để đi công chuyện thì ông S1 đồng ý. Sau đó, Ng đưa xe mô tô của ông S1 cho S điều khiển chở theo Hoà rồi tất cả đi về hướng xã H.Th huyện Hàm Thuận Nam, khi đến khu vực giáp ranh giữa xã H.Th, huyện Hàm Thuận Nam và xã Hàm Hiệp, huyện Hàm Thuận Bắc thì dừng lai, Ng đi vào rẫy của một người tên Long (Hiện chưa xác định rõ nhân thân lai lịch) để mượn kiềm cộng lực. Trong lúc S và Hoà đứng đợi thì Hoà nói với S là “em bị mệt, chở em đi về nhà”. Sau đó, S chở Hoà về nhà tại thôn H.L, huyện Hàm Thuận Bắc rồi quay lại. Khi S điều khiển xe tới xã H.Th thì thấy Ng đang đứng trước vườn thanh long nhà ông N.H.Q, sinh năm 1994 (trú thôn Dân Thuận, xã H.Th, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận) trong vườn đang treo dây điện trên các trụ thanh long (để chong đèn thanh long), nhưng không có người trông coi nên Ng nói với S “Anh đứng ngoài coi xe còn em vào lấy trộm”. Lúc này, Ng cầm cây kiềm đi vào trong vườn thanh long nhà ông Q để cắt trộm dây điện, còn S đứng ngoài cảnh giới, khi Ng đang cắt trộm dây điện thì bị ông Q phát hiện truy hô “trộm, trộm”, thấy vậy S đang đứng ở ngoài liền lấy xe điều khiển tẩu thoát trước, còn Ng chạy ra lấy xe tẩu thoát sau, nhưng khi Ng vừa điều khiển xe chạy được một đoạn thì bị ông Q bắt giữ, giao Công an xã H.Th, huyện Hàm Thuận Nam làm việc, quá trình làm việc Ng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cùng với S. Sau khi chạy thoát S đem xe đến trả lại cho ông S1 rồi đi về nhà, quá trình điều tra, xác minh hiện nay ông S1 đã bán nhà bỏ đi nơi khác, hiện không xác định được ông S1 đang ở đâu nên không thể làm việc được với ông S1. (Bút lục: 52-53; 62-68; 70-75; 79-84; 91-98; 122-135)

Tang vật thu giữ gồm: (Bút lục: 29-47; 52-53)

- 01 kềm cộng lực bằng kim loại màu trắng dài 60cm, phần cán được bọc nhựa màu xanh; 01 xe mô tô BKS 86L2 – 3341 hiệu Wave, màu đen; 38 đoạn dây điện mỗi đoạn dài 50m (bao gồm: 02 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu Thipha Cable màu trắng; 25 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu Thipha Cable màu vàng; 02 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu Việt Thái màu xanh; 02 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu TaTun màu xanh; 07 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) không ghi nhãn hiệu.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 31/2022-HDĐG ngày 03/8/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Hàm Thuận Nam kết luận: (Bút lục: 49-50)

- 38 đoạn dây điện mỗi đoạn dài 50m (bao gồm: 02 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu Thipha Cable màu trắng; 25 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu Thipha Cable màu vàng; 02 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu Việt Thái màu xanh; 02 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu TaTun màu xanh; 07 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) không ghi nhãn hiệu có tổng giá trị là 8.596.000 (Tám triệu năm trăm ch n mươi sáu nghìn) đồng.

Cáo trạng số 35/CT-VKSHTN-HS ngày 20/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam truy tố các bị cáo N.A.Ng và N.Ng.S về tội: “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: các bị cáo N.A.Ng và N.Ng.S phạm tội “trộm cắp tài sản”.

Áp Dụng: khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt N.A.Ng từ 2 năm 6 tháng tù đến 3 năm tù

Áp Dụng: khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt N.Ng.S từ 9 đến 12 tháng tù

Về vật chứng: đề nghị Tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 01 kềm cộng lực bằng kim loại màu trắng dài 60cm, phần cán được bọc nhựa màu xanh. Hiện vật chứng đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hàm Thuận Nam theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/4/2023

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã mô tả, thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt, không tranh luận gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về t nh hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Nam, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm Q, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về tội danh của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo N.A.Ng và N.Ng.S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận này phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ; phù hợp với lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, do đó đã đủ cơ sở xác định:

Vào ngày 02/7/2022 tại thôn Dân Thuận, xã H.Th, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, N.A.Ng và N.Ng.S đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 38 đoạn dây điện mỗi đoạn dài 50m (bao gồm: 02 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu Thipha Cable màu trắng; 25 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu Thipha Cable màu vàng; 02 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu Việt Thái màu xanh; 02 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu TaTun màu xanh; 07 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) không ghi nhãn hiệu, có giá trị là 8.596.000 đồng của bị hại N.H.Q thì bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của các bị cáo N.A.Ng và N.Ng.S là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm trực tiếp đến Q sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về mức hình phạt:

Các bị cáo N.A.Ng và N.Ng.S là những công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu rõ việc chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác là điều pháp luật nghiêm cấm. Tuy nhiên, để có tiền tiêu xài mà không phải tốn công sức lao động, các bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, do đó cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đây là vụ án có đồng phạm, trong đó N.A.Ng là ngưởi khởi xướng, rủ rê và thực hành t ch cực, không những thế bị cáo còn có nhiều tiền sự, trong đó có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, nhân thân xấu, do đó mức hình phạt đối với bị cáo N.A.Ng cao hơn bị cáo N.Ng.S.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự mà các bị cáo được hưởng.

Đối với bị cáo N.A.Ng “đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả”; “bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự” và “có ông, bà ngoại là người có công với cách mạng”. đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị can N.Ng.S “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp t nghiêm trọng” đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 38 đoạn dây điện mỗi đoạn dài 50m (bao gồm: 02 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu Thipha Cable màu trắng; 25 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu Thipha Cable màu vàng; 02 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu Việt Thái màu xanh; 02 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) hiệu TaTun màu xanh; 07 đoạn dây điện (dây đôi 2x1,5mm) không ghi nhãn hiệu là tài sản của anh N.H.Q, quá trình điều tra xét thấy đã làm rõ nên ngày 22/03/20223 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là anh Q. Việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 86L2- 3341 hiệu Wave, màu xanh, đen. Quá trình điều tra đã xác định được chủ sở hữu là bà Phan Thị Ng Ánh cho Phan Quốc Toàn mượn. Sau đó, Toàn cho Ng mượn và việc Ng sử dụng xe trên để đi trộm cắp tài sản bà Ánh và Toàn không biết. Do đó, không cần tiếp tục tạm giữ nên ngày 22/03/2023 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là bà Ánh. Việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

- Đối với 01 kềm cộng lực bằng kim loại màu trắng dài 60cm, phần cán được bọc nhựa màu xanh theo lời khai của N.A.Ng là mượn của ông Long (hiện chưa xác định rõ nhân thân lai lịch) và đã sử dụng vào việc trộm cắp nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với Phạm Văn Hoà quá trình điều tra xác định Hoà không có tham gia trộm cắp tài sản cùng với Ng và S, không biết Ng và S trộm cắp tài sản của ông Q (do Hoà đi về trước và sau đó mới biết Ng và S thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và bị bắt). Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Nam không đề cập xử lý Hoà về tội không tố giác tội phạm là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại N.H.Q không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì. Tuy nhiên, bị cáo N.A.Ng đã tự nguyện khắc phục, bồi thường số tiền 1.000.000 đồng cho anh Q và anh Q đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Ng (Bút lục: 60-61).

Về án ph :

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án ph hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố các bị cáo N.A.Ng và N.Ng.S, phạm tội: “trộm cắp tài sản”

[1.1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt N.A.Ng 02 (hai) năm tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự

Tổng hợp hình phạt 3 (ba) năm 9 (ch n) tháng tù giam tại bản án số 22/2023/HS-ST ngày 16/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc về tội “trộm cắp tài sản” và “cướp giật tài sản”, buộc bị cáo N.A.Ng phải chấp hành hình phạt chung là 5 (năm) năm 09 (ch n) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 04/9/2022.

[1.2] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt N.Ng.S 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 08/02/2023.

[2] về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy đối với 01 kềm cộng lực bằng kim loại màu trắng dài 60cm, phần cán được bọc nhựa màu xanh. Hiện vật chứng đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hàm Thuận Nam theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/4/2023

[3] Về án ph : Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Buộc các bị cáo N.A.Ng và N.Ng.S mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án ph hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, báo cho biết có Q kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có Q lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có Q kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ