vanban.org

Bản án 49/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Châu, tỉnh An Giang Tuyên án 02/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lữ Văn H phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt: Bị cáo Lữ Văn H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015. Công nhận sự thỏa thuận giữa bị hại ông… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lữ Văn H phạm tội "Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 49/2023/HS-ST
Ngày 02 tháng 6 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hòa Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trường Vũ và ông Nguyễn Thành Lil.

Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Mộng Thu,Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Treo - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2023, tại tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 04 năm 2023.theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Lữ Văn H, sinh năm 1976; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông Lữ Văn H1(chết) và bà Nguyễn Thị N(chết); A, chị, em ruột: có 05 người, bị cáo là người thứ hai; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:Từ nhỏ sống chung với cha mẹ, không được đi học. Hiện đang sinh sống tại khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; bị cáo tại ngoại (có mặt)

- Bị hại: Ông Nguyễn Hòa B, sinh năm 1975; Cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt)

- Người làm chứng:

+ Ông Lê Văn D, sinh năm 1981 (vắng mặt);

+ Ông Võ Văn H2, sinh năm 1978 (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 10/11/2022, ông Nguyễn Hòa B điều khiển xe mô tô từ nhà đến gần quán cà phê bà P thuộc khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, thì gặp Lữ Văn H và Lê Văn D đang ngồi nói chuyện cặp lề đường. Ông B nhớ lại việc H có mượn cái bội gà nên dừng xe lại, có lời lẽ chửi H và hỏi đã trả bội gà cho ông B chưa. Hai nói đã trả rồi thì ông B tiếp tục chửi thề và nói chưa thấy bội gà do H trả, cả hai xảy ra cự cãi, ông B tiếp tục chửi Hai. Lúc này, ông B tháo nón bảo hiểm đang đội trên đầu xuống cầm trên tay và bước về phía Hai, thấy ông B cầm nón bảo hiểm nên H nhặt 01 cục gạch thẻ ngay chỗ ghế đang ngồi và cầm trên tay trái, được ông D khuyên ngăn, không xảy ra đánh nhau, ông B bỏ đi, H vẫn ngồi tại chỗ ghế đá. Sau đó, ông B điều khiển xe chạy đi một đoạn thì quay xe lại tiếp tục chửi Hai, đồng thời đi đến nắm cổ áo của H bằng tay trái, H dùng tay phải nắm cổ áo ông B thì bị ông B đánh 01 cái trúng cạnh hàm bên phải, H dùng tay trái đánh lại nhiều cái trúng vào vùng mắt phải và đuôi chân mày phải của ông B, làm chảy máu. Cùng lúc, ông Võ Văn H2 đến can ngăn, cả hai không đánh nhau nữa, ông B được người nhà đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu và chuyển tuyến đến Bệnh viện mắt thành phố H để khám, điều trị, đến ngày 14/11/2022 xuất viện.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 667/22/TgT ngày 06/12/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh A, đối với Nguyễn Hòa B, sinh năm 1975, kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo từ cung mày phải đến đuôi mắt phải, kích thước (07 x 0.15)cm, sẹo lõm, sậm màu, bờ không sắc: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 03% (Không ba phần trăm).

- Chấn thương mắt phải: Vỡ nhãn cầu, mất thị lực mắt phải. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 41% (Bốn mươi một phần trăm).

2. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là: 43% (Bốn mươi ba phần trăm).

3. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích do vật tày gây nên.

Cáo trạng số 23/CT-VKSTC- HS ngày 20 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Lữ Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Lữ Văn H khai nhận có gây thương tích cho ông Nguyễn Hòa B như nội dung cáo trạng truy tố.

Bị hại ông Nguyễn Hòa B, người làm chứng ông Lê Văn D và ông Võ Văn H2 trình bày phù hợp với nội dung vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Ông B đã nhận bồi thường số tiền 5.000.000 đồng của bị cáo H, yêu cầu bị cáo H phải bồi thường thêm tiền mất ngày công lao động và tổn thất tinh thần là 5.000.000 đồng. Bị cáo H đồng ý theo yêu cầu của ông B.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết truy tố như cáo trạng, căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lữ Văn H mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 đề nghị HĐXX công nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị hại Nguyễn Hòa B và bị cáo Lữ Văn H, bị cáo Lữ Văn H bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại Nguyễn Hòa B số tiền 5.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hình vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2. Về nội dung:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 10/11/2022, tại quán cà phê bà P thuộc khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, xảy ra việc xô xát giữa Lữ Văn H và ông Nguyễn Hòa B, nguyên nhân xuất phát từ việc ông B có cho H có mượn cái bội gà chưa trả cho ông, tuy nhiên Hai nói đã trả rồi, cả hai xảy ra cự cãi, được ông D khuyên ngăn, không xảy ra đánh nhau, ông B bỏ đi, H vẫn ngồi tại chỗ ghế đá. Sau đó, ông B điều khiển xe chạy đi một đoạn thì quay xe lại tiếp tục chửi Hai, đồng thời đi đến nắm cổ áo của H bằng tay trái, H dùng tay phải nắm cổ áo ông B thì bị ông B đánh 01 cái trúng cạnh hàm bên phải, H dùng tay trái đánh lại nhiều cái trúng vào vùng mắt phải và đuôi chân mày phải của ông B, làm chảy máu.

Tại phiên tòa, bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung của bản cáo trạng, lời khai bị hại, người làm chứng, chứng phù hợp với bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 667/22/TgT ngày 06/12/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh A và vật chứng của vụ án, bị cáo H có hành vi dùng tay gây thương tích cho ông Nguyễn Hòa B với tỷ lệ tổn thương cơ thể 43%, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lữ Văn H phạm tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng quy định pháp luật.

- Hành vi của bi cáo H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác và xâm phạm đến trật tự công cộng và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương, do đó cần phải xử lý nghiêm, phù hợp tính chất và mức độ phạm tội mà bị cáo gây ra, qua đó cũng nhằm mục đích giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm chung trong giai đoạn hiên nay.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo H là người có đủ năng lực trách nhiêm hình sự, bản thân nhận thức rõ gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại đến cùng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, điều này chứng tỏ bị cáo là người xem thường pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, đã bồi thường được một phần thiệt hại cho bị hại, các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hiện tại trên địa bàn thị xã T các tội phạm về cố ý gây thương tích có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết,cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H đã bồi thường cho bị hại B được số tiền 5.000.000 đồng, tại phiên tòa bị hại B tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại sức khỏe số tiền 5.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015, công nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị hại Nguyễn Hòa B và bị cáo Lữ Văn H, bị cáo Lữ Văn H bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại Nguyễn Hòa B số tiền 5.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả, theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 1Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Về các vấn đề khác: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

-Tuyên bố: Bị cáo Lữ Văn H phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Lữ Văn H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015. Công nhận sự thỏa thuận giữa bị hại ông Nguyễn Hòa B và bị cáo Lữ Văn H, bị cáo Lữ Văn H tiếp tục bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại ông Nguyễn Hòa B số tiền 5.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả, theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án). Buộc bị cáo Lữ Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ