- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ho Hoang Huan phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2023/HS-ST Ngày: 27-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Thông và bà Đặng Thị Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Phi Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Như - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2023/TLST-HS ngày 29-5-2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38A/2023/QĐXXST-HS ngày 13-6-2023 đối với bị cáo:
Hồ Hoàng H, sinh năm 2001; nơi sinh: tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: 81C tổ 6, ấp 4, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Diễn viên xiếc; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Hoàng D (đã chết) và bà Ngô Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20-9-2021 bị Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ đồ chơi nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 4 Điều 10 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, ngày 21-9-2021 đã chấp hành xong (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); bị cáo bị tạm giữ ngày 02-4-2023 sau đó chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố G – có mặt.
Bị hại: Anh Huỳnh Tú L; địa chỉ: Tổ dân phố 01, ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nơi ở hiện tại: 117/80 Hồ Văn Long, phường T, quận B, thành phố Hồ Chí Minh – vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Duy T; địa chỉ: Tổ dân phố 02, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
- Anh Hoàng Hữu Tuấn Dũng; địa chỉ: 158 Trần Hưng Đạo, phường N, quận 01, thành phố Hồ Chí Minh – vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thanh Tiến; địa chỉ: 70 Tây Lân, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh – vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 22 giờ ngày 01-4-2023, sau khi biểu diễn xong thì Hồ Hoàng H, anh Huỳnh Tú L, anh Hoàng Hữu Tấn D và anh Nguyễn Thanh T về nhà nghỉ 36 thuộc tổ dân phố 6, phường N, thành phố G đã thuê trước đó để ở. Trước khi ngủ, anh L cắm sạc pin chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Fold 5G màu đen ở ổ điện cuối giường. Đến khoảng 10 giờ ngày 02-4-2023, anh D, anh T và H thức dậy trước và đi uống cà phê ở quán Leo thuộc phường N, thành phố G, còn anh L ở phòng ngủ.
Khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, khi chuẩn bị trả tiền uống cà phê thì H mới biết quên mang theo tiền, H nói với anh D, anh T ngồi chờ H đi về nhà nghỉ lấy tiền. Khi về đến phòng thì H gặp anh L vừa mới ngủ dậy, H rủ anh L đi uống cà phê thì anh L trả lời “em ra trước tí anh ra sau”, rồi anh L đi vào nhà vệ sinh. Khi này, H đi đến giường lấy ví tiền của mình thì nhìn thấy điện thoại Samsung Galaxy Fold 5G của anh L nên nảy sinh ý định trộm cắp, H quan sát thêm một lần nữa thì thấy anh L vẫn đang trong nhà vệ sinh, H lấy chiếc điện thoại cất giấu vào túi quần bên phải rồi đi ra khỏi nhà nghỉ.
Sau đó, H đón taxi do anh Nguyễn Duy T làm tài xế và yêu cầu anh L chở H đến tiệm điện thoại gần nhất để bán. Tuy nhiên, khi vào ba tiệm điện thoại trên địa bàn thành phố G, H không cung cấp được mật khẩu mở máy nên các chủ tiệm không mua. Sau đó, H quay lại xe taxi hỏi anh T có mua lại điện thoại không thì anh T nói điện thoại không mở được mật khẩu thì không dùng được. Lúc này, H hỏi anh T bán theo giá xác điện thoại thì mua được bao nhiêu, anh T nói mua được với giá 300.000đ, H nói được 500.000đ thì bán, nghe nói vậy thì anh T đồng ý mua. Sau đó, anh T chở H về lại nhà nghỉ 36, do H đi taxi hết 200.000đ nên anh T trả cho H số tiền còn lại 300.000đ.
Sau khi anh L phát hiện bị mất điện thoại Samsung Fold 5G nên trình báo Công an. Ngày 02-4-2023, tại Cơ quan Công an H đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình và giao nộp 300.000đ cất giữ trong người, anh Nguyễn Duy T giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy Fold 5G.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG ngày 06/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Gia Nghĩa kết luận giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy Fold 5G tại thời điểm bị chiếm đoạt là 8.800.000đ.
Cáo trạng số 47/CT-VKS-GN ngày 25-5-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố G đã truy tố bị cáo Hồ Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Hồ Hoàng H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, khoản và điều luật áp dụng như Cáo trạng là đúng.
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Hồ Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02-4-2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy Fold 5G cho anh Huỳnh Tú L và số tiền 300.000đ cho anh Nguyễn Duy T.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, anh Huỳnh Tú L không yêu cầu gì thêm đồng thời có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không bào chữa về hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập lưu tại hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 02-4-2023, tại nhà nghỉ 36 thuộc tổ dân phố 6, phường N, thành phố G, Hồ Hoàng H đã lén lút trộm cắp tài sản là chiếc điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy Fold 5G của anh Huỳnh Tú L có giá trị 8.800.000đ. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó có đủ căn cứ để kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…”.
Hành vi phạm tội của bị cáo ít nghiêm trọng nhưng đã gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ đồ chơi nguy hiểm” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G trả lại 01 điện thoại di động SamSung Galaxy Fold 5G cho anh Huỳnh Tú L và số tiền 300.000đ cho anh Nguyễn Duy T là các chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với anh Nguyễn Duy T, do lúc bán chiếc điện thoại SamSung Galaxy Fold 5G bị cáo H nói điện thoại của bị cáo bị quên mật khẩu, anh T không biết đây là tài sản trộm cắp mà có, do vậy không xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh T là có căn cứ.
Xét chứng cứ buộc tội, quan điểm đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo và việc xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Hoàng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt Hồ Hoàng H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02-4-2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 điện thoại di động Sam Sung Galaxy Fold 5G cho anh Huỳnh Tú L và số tiền 300.000đ cho anh Nguyễn Duy T là các chủ sở hữu hợp pháp.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hồ Hoàng H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng PV06, PC10 Công an tỉnh Đắk Nông; - VKSND thành phố Gia Nghĩa; - Cơ quan CSĐT Công an TP. Gia Nghĩa; - Phòng HS, NV CA thành phố Gia Nghĩa; - Cơ quan THAHS Công an TP. Gia Nghĩa; - CCTHADS thành phố Gia Nghĩa; - Bị cáo; - Bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thắm |