- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2023/HS-ST Ngày : 24 – 02 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải An
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hưng.
Bà H’Hương Bkrông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Ánh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc _ Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 24/02/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2023/HSST ngày 17/01/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HS ngày 13/02/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Quốc D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh năm 2000, Tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi thường trú: Thôn x, xã W, huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk. Chỗ ở hiện nay: Số vc đường K, phường zx, quận T, thành phố hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Họ và tên cha: Phạm Đức C, sinh năm 1968. Họ và tên mẹ: Phạm Thị V, sinh năm: 1972. Hiện đều trú tại: Số vc đường K, phường zx, quận T, thành phố hồ Chí Minh. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án: Không. Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột từ ngày 19/9/2022 đến ngày 14/10/2022. Ngày 14/10/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
1. Chị Võ Ngọc Liên C, sinh năm: 1994 (Vắng mặt).
Trú tại: Thôn z, xã P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
2. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1987 (Vắng mặt).
Trú tại: Buôn J, xã T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
3. Anh Trần Quốc Đan H, sinh năm: 2003 (Vắng mặt).
Trú tại: Số cz, đường K, phường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lê Công L, sinh năm: 1992 (Vắng mặt).
Trú tại: Số zcx đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
2. Anh Nguyễn Lê N, sinh năm: 1992 (Vắng mặt).
Trú tại: Thôn v, xã T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
3. Chị Trần Thị Kim N, sinh năm: 1994 (Vắng mặt).
Trú tại: Số vc/xv đường P, phường C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Quốc D là học viên học lái xe tại Trung tâm dạy học lái xe ô tô, ở thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Trong thời gian tham gia học lái xe, D đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ ngày 06/9/2022, sau khi thực hành lái xe tại Trung tâm Đào tạo – Sát hạch lái xe V, địa chỉ: Số sv đường Đ, thành phố B, thành phố Buôn Ma Thuột, D đi bộ lại nhà để xe mô tô thì thấy xe mô tô hiệu Honda SH mode, biển số 47B2-cx.xcv của chị Võ Ngọc Liên C, sinh năm: 1994, hộ khẩu thường trú: Thôn z, xã P, thành phố B không khóa cốp xe. D quan sát thấy không có người trông coi nên đã lén lút mở cốp chiếc xe trộm cắp bên trong một túi xách màu đen có số tiền 16.000.000 đồng. Sau đó, D lấy tiền số tiền 16.000.000 đồng cất vào túi quần và bỏ lại chiếc túi xách vào cốp xe rồi đi về, tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 10 giờ ngày 07/9/2022, sau khi bổ sung hồ sơ học lái xe tại Trung tâm Đào tạo – Sát hạch lái xe V, Phạm Quốc D đi bộ lại nhà để xe mô tô thì thấy xe mô tô hiệu Honda SH mode, biển số 47B2-zxc.ad của chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1987, hộ khẩu thường trú: Buôn J, xã T, thành phố B không khóa cốp xe. D quan sát thấy không có người trông coi nên lén lút mở cốp chiếc xe trộm cắp một ví da màu đỏ, bên trong ví có số tiền 27.000.000 đồng, nên D đã lấy số tiền 27.000.000 đồng cất vào túi quần và bỏ lại chiếc ví vào cốp xe rồi đi về, tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ ba: Khoảng 12 giờ ngày 10/9/2022, sau khi học lý thuyết lái xe tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp N, địa chỉ: Số ws, đường H, thành phố B, Phạm Quốc D đi bộ lại nhà để xe mô tô thì thấy xe mô tô hiệu Honda SH mode, biển số 47B2-bvc.ad của anh Trần Quốc Đan H, sinh năm: 2003, hộ khẩu thường trú: Số cz, đường K, phường L, thành phố B, không khóa cốp xe. D lén lút mở cốp chiếc xe trộm cắp một túi nylon màu trắng đựng nhiều điện thoại và một máy tính bảng. D lấy túi nylon đựng điện thoại và máy tính bảng trên rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 47S1-vbc.vz đi đến Trường Cao đẳng Bách khoa N, tổ dân phố s, phường A, thành phố B. Tại đây, D kiểm tra các tài sản vừa trộm cắp được thì thấy có một máy tính bảng hiệu Apple màu hồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus màu đen, dung lượng bộ nhớ 32 GB; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus màu đen, dung lượng bộ nhớ 128 GB; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, bị tắt nguồn; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus, màu hồng (không rõ dung lượng). Lúc này, D thấy chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen và 01 điện thoại Iphone 6 plus bị tắt nguồn nên D bỏ hai chiếc điện thoại này lại dưới nền đất trong nhà để xe thuộc Trường Cao đẳng Bách khoa N rồi đi đến tiệm cầm đồ P, địa chỉ: Số xv, đường Y, phường T1, thành phố B, D bán chiếc máy tính bảng hiệu Apple cho anh Lê Công L, sinh năm: 1992, hộ khẩu thường trú: Số zcx đường L, phường T, thành phố B được số tiền 3.000.000 đồng và đến tiệm mua bán điện thoại Ngọc Mobile, tại địa chỉ số acx đường Y, phường T1, thành phố B bán chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus dung lượng 32GB cho anh Nguyễn Lê N, sinh năm: 1992, hộ khẩu thường trú: Thôn v, xã T, thành phố B được số tiền 2.200.000 đồng. Sau đó, D tiếp tục đến tiệm cầm đồ Phút 89, địa chỉ: Số 41, đường Lê Duẩn, thành phố Buôn Ma Thuột bán chiếc điện thoại di động hiệu OPPO và chiếc điện thoại di động hiệu Samsung cho chị Trần Thị Kim N, sinh năm: 1994, hộ khẩu thường trú: Số vc/xv đường P, phường C, thành phố B được số tiền 2.200.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ tư: Vào khoảng 07 giờ 30 ngày 18/9/2022, Phạm Quốc D đến Trường Cao đẳng Bách khoa N để thi thử lái xe thì thấy tại nhà để xe mô tô có một xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số: 47B2-sav.vz của anh Lê Anh T, sinh năm: 1994, hộ khẩu thường trú: Số 17, đường Phan Văn Khỏe, phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, không khóa cốp xe. D quan sát thấy không có ai trông coi nên lén lút mở cốp xe trộm cắp số tiền 8.000.000 đồng của Anh T cất vào túi quần rồi vào thi thử lái xe. Đến sáng ngày 19/9/2022, D mang theo số tiền 8.000.000 đồng đã trộm cắp của Anh T cùng chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, dung lượng 128GB chiếm đoạt của anh Huy đi uống nước thì bị Công an phường A, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk phát hiện mời về làm việc.
Tại Bản kết luận số 234 ngày 18 tháng 12 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, kết luận:
- 01 máy tính bảng ipad thế hệ 8, màu hồng, số Serial: DMPDH4FKQ1GF, dung lượng 32GB, đã qua sử dụng, trị giá: 6.200.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s plus, màu vàng, số Imei: 353292074628872, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng, trị giá: 2.000.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen, số Imei: 355348083092530, dung lượng 128GB, đã qua sử dụng, trị giá: 2.500.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen, số Imei: 359174077129955, dung lượng 32GB, đã qua sử dụng, trị giá: 2.300.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đen, dung lượng 32GB, bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng, trị giá: 1.300.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A11, màu trắng, dung lượng 32GB, đã qua sử dụng, trị giá: 800.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9, màu hồng đỏ, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng, trị giá: 1.100.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 17/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo Phạm Quốc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và Bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời, đề nghị HĐXX:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phạm Quốc D mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm.
- Các biện pháp tư pháp:
+ Chấp nhận Cơ quan điều tra thu giữ và trả lại: Số tiền 8.000.000 đồng cho anh Lê Anh T; 01 chiếc máy tính bảng ipad thế hệ 8; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s plus; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen, dung lượng 128GB; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen, dung lượng 32GB; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, dung lượng 128GB; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, dung lượng 32GB cho anh Trần Quốc Đan H.
+ Trả cho Phạm Quốc D: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, số Imei: 353988105607; 01 xe mô tô nhãn hiệu: Honda; số loại: Airblade; biển số 47S1-264.16; màu sơn: Đen.
+ Về phần dân sự của vụ án: Chấp nhận gia đình của bị cáo đã bồi thường: số tiền 13.000.000 đồng cho chị Võ Ngọc Liên C; số tiền 24.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị T; số tiền 2.200.000 đồng cho anh Nguyễn Lê N; số tiền 3.000.000 đồng cho anh Lê Công L; số tiền 1.700.000 đồng tương đương giá trị chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A11, màu trắng, dung lượng 32 Gb và chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F9, màu hồng đỏ, dung lượng 64 Gb chưa thu hồi được cho anh Trần Quốc Đan H.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì đối với hành vi đã thực hiện, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại về các quyết định và hành vi tố tụng đó. Do vậy, quyết định và hành vi tố tụng của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo:
Căn cứ vào quá trình tranh tụng tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để khẳng định: Trong khoảng thời gian từ ngày 06/9/2022 đến ngày 18/9/2022 trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Phạm Quốc D đã lén lút chiếm đoạt các tài sản: 01 máy tính bảng ipad thế hệ 8 trị giá: 6.200.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s plus trị giá: 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen, dung lượng 128GB trị giá: 2.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen, dung lượng 32GB trị giá: 2.300.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đen, dung lượng 32GB trị giá: 1.300.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A11, màu trắng, dung lượng 32GB trị giá: 800.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 trị giá: 1.100.000 đồng của anh Trần Quốc Đan H. Số tiền 16.000.000 đồng của chị Võ Ngọc Liên C; 27.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị T và 8.000.000 đồng của anh Lê Anh T. Tổng trị giá tài sản bị cáo trộm cắp là 67.200.000 đồng.
Hành vi của Phạm Quốc D là phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
…
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;…”
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại và gây nên những ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật quan tâm bảo vệ, mọi hành vi xâm hại trái pháp luật đều bị trừng trị một cách thích đáng. Xong xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật và muốn có tiền tiêu xài, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Quốc D phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục, bồi thường thiệt hại; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; ông nội của bị cáo là người có công với cách mạng.; bản thân bị cáo đã từng tham gia quân ngũ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, nhận thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, tập trung nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, việc cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục và tạo điều kiện để bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội nên cần chấp nhận.
Về các biện pháp tư pháp:
- Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ và trả lại: Số tiền 8.000.000 đồng cho anh Lê Anh T; 01 chiếc máy tính bảng ipad thế hệ 8, màu hồng, dung lượng 32GB; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s plus, màu vàng, dung lượng 64GB; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen, dung lượng 128GB; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen, dung lượng 32GB; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, dung lượng 128GB; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đen, dung lượng 32GB, bị vỡ màn hình, đều đã qua sử dụng cho anh Trần Quốc Đan H. Xét việc giao trả tài sản là phù hợp nên cần chấp nhận.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, số Imei: 353988105607; 01 xe mô tô nhãn hiệu: Honda; số loại: Airblade; biển số 47S1-264.16; số máy: JF94E0352207; số khung: RLHJF6333MZ682188; dung tích xi lanh: 124,9; màu sơn: Đen của bị cáo Phạm Quốc D. Các tài sản này bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên cần tuyên trả cho Phạm Quốc D là phù hợp.
- Về phần dân sự của vụ án: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 13.000.000 đồng cho chị Võ Ngọc Liên C; số tiền 24.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị T; số tiền 2.200.000 đồng cho anh Nguyễn Lê N; số tiền 3.000.000 đồng cho anh Lê Công L; số tiền 1.700.000 đồng tương đương giá trị chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A11, màu trắng, dung lượng 32 Gb và chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F9, màu hồng đỏ, dung lượng 64 Gb chưa thu hồi được cho anh Trần Quốc Đan H. Xét việc bồi thường là tự nguyện nên cần chấp nhận.
Các nội dung khác:
Trong vụ án này có anh Lê Công L là người mua chiếc máy tính bảng hiệu Apple màu hồng, anh Nguyễn Lê N là người mua chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus và chị Trần Thị Kim N là người mua chiếc điện thoại di động hiệu OPPO, chiếc điện thoại di động hiệu Samsung, anh Lợi, anh Ngọc và chị Ngân không biết tài sản trên do bị cáo D trộm cắp được mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án..
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự
Xử phạt Phạm Quốc D 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 14, quận Bình Thạnh, thành phố hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[3] Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 584, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.
- Chấp nhận Cơ quan điều tra thu giữ và trả lại: Số tiền 8.000.000 đồng cho anh Lê Anh T; 01 chiếc máy tính bảng ipad; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s plus; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, dung lượng 128GB; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, dung lượng 32GB; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, dung lượng 128GB và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, dung lượng 32GB cho anh Trần Quốc Đan H.
- Trả cho bị cáo Phạm Quốc D: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, số Imei: 353988105607; 01 xe mô tô nhãn hiệu: Honda, số loại: Airblade, biển số 47S1-264.16, số máy: JF94E0352207, số khung: RLHJF6333MZ682188, dung tích xi lanh: 124,9, màu sơn: Đen.
(Vật chứng hiện đang lưu trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột. Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2023 giữa Công an thành phố Buôn Ma Thuột với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).
- Chấp nhận gia đình của bị cáo đã bồi thường: Số tiền 13.000.000 đồng cho chị Võ Ngọc Liên C; số tiền 24.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị T; số tiền 2.200.000 đồng cho anh Nguyễn Lê N; số tiền 3.000.000 đồng cho anh Lê Công L; số tiền 1.700.000 đồng cho anh Trần Quốc Đan H.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Quốc D phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận : -VKSND tỉnh Đắk Lắk; VKSND TP.BMT; -TAND tỉnh Đắk Lắk; Công an TP.BMT; -CCTHA DSTP.BMT, THA phạt tù; -Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Các đương sự; -Chánh án; - Lưu: HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hải An |