- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị M - phạm tội vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh; tội ở lại Việt Nam trái phép (điều 347 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2023/HS-ST Ngày 20 tháng 7 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Minh và bà Vũ Thị Nga
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tiến Thành
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Đại Dương - Kiểm sát viên
Trong ngày 20 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023 đối với:
Bị cáo Nguyễn Thị M, sinh năm 1991 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn S, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Phạm Thị C; Có chồng là Phạm Ngọc L (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định số 323/QĐ-XPVPHC ngày 27/9/2020 bị Đồn Biên phòng Bắc Sơn, tỉnh Quảng Ninh xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền 4.000.000 đồng) về hành vi “Qua lại biên giới Quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định”, chấp hành xong ngày 24/4/2023. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị M nhiều lần sử dụng Hộ chiếu số hiệu C7725912 của mình do Cục Quản lý xuất, nhập cảnh Bộ Công an cấp ngày 03/7/2019 để xin cấp thị thực xuất cảnh sang Trung Quốc, bán quần áo thuê cho chủ cửa hàng tại thành phố Mậu Danh, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Từ tháng 7/2020 đến tháng 02/2022, do tình hình dịch bệnh Covid-19 phức tạp, cơ quan chức năng Trung Quốc và Việt Nam không cấp thị thực, giấy thông hành cho công dân để qua lại biên giới hai nước nên tháng 7/2020, Nguyễn Thị M xuất cảnh trái phép từ thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh sang tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc bị Công an Trung Quốc phát hiện đưa vào Trại tạm giam Bế Hải, tỉnh Quảng Tây đến ngày 21/9/2020 Công an Trung Quốc đưa Nguyễn Thị M ra biên giới yêu cầu đi đò qua sông Ka Long sang thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam. Khi lên bờ Đồn Biên phòng Bắc Sơn, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh phát hiện ra Quyết định xử phạt hành chính số 323/QĐ-XPVPHC ngày 27/9/2020 với mức phạt 04 triệu đồng về hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh. Sau đó Nguyễn Thị M vào mạng xã hội facebook liên hệ với một người đàn ông không biết họ tên, tuổi, địa chỉ đăng bài đưa người sang Trung Quốc trên nhóm “Người Việt Nam tại Trung Quốc” nhờ người đàn ông này đưa Nguyễn Thị M vượt biên giới trái phép để sang thành phố Mậu Danh, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc bán hàng thuê. Người này yêu cầu chi phí 20 triệu đồng và hẹn gặp Nguyễn Thị M tại thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng để giúp vượt biên trái phép sang Trung Quốc. Ngày 20/7/2021, Nguyễn Thị M đi xe ô tô khách từ xã Đông Sơn, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đến thành phố Hà Nội rồi tiếp tục đi đến thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ đi xe mô tô ra đón rồi dẫn đi qua đường mòn, từ tỉnh Cao Bằng vượt biên giới trái phép sang tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Đến 07 giờ ngày 23/7/2021, Nguyễn Thị M được người đàn ông khác đưa lên xe ô tô chở đến thành phố Mậu Danh, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc làm việc nội trợ và bán hàng quần áo cho một gia đình ở thành phố Mậu Danh, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Đến ngày 25/9/2021, bị Công an Trung Quốc kiểm tra, phát hiện Nguyễn Thị M không làm thủ tục xuất, nhập cảnh nên đưa vào Nhà tạm giữ của Công an thành phố Mậu Danh, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Ngày 16/02/2022, Tổng trạm kiểm tra biên phòng xuất, nhập cảnh tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc có Công hàm số 13(2022) gửi Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn đề nghị tiếp nhận 204 công dân Việt Nam nhập cảnh trái phép vào Trung Quốc trong đó có Nguyễn Thị M. Ngày 22/02/2022, Nguyễn Thị M được Tổng trạm kiểm tra biên phòng xuất, nhập cảnh tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc trao trả cho Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị, tỉnh Lạng Sơn. Sau đó, Nguyễn Thị M về nhà ở xã Đông Sơn, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Cáo trạng số 36/CT-VKSTB ngày 16 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh” theo Điều 347 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị M. Đề nghị Hội đồng xét xử:
* Áp dụng Điều 347; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo số tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.
* Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo hình phạt tiền để bị cáo có cơ hội tự cải tạo, lao động chăm sóc mẹ già và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với tài liệu lịch sử xuất, nhập cảnh của Nguyễn Thị M do Phòng Quản lý xuất, nhập cảnh Công an tỉnh Thái Bình cung cấp; Hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính của Đồn biên phòng Bắc Sơn, tỉnh Quảng Ninh và Công an xã Đông Sơn, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; Hồ sơ do Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Lạng Sơn cung cấp xác định việc trao trả Nguyễn Thị M từ Trung Quốc về Việt Nam qua Cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị vào ngày 22/02/2022; Công Hàm số 13(2022) ngày 16/02/2022, của Tổng trạm kiểm tra biên phòng xuất, nhập cảnh tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc gửi Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận: Ngày 27/9/2020, Nguyễn Thị M bị Đồn Biên phòng Bắc sơn, tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 323/QĐ-XPVPHC, mức phạt 04 triệu đồng về hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh. Đến tháng 7/2021 (khi chưa chấp hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên), Nguyễn Thị M tiếp tục thực hiện hành vi vượt biên giới quốc gia trái phép từ thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng sang Trung Quốc rồi đi đến thành phố Mậu Danh, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc làm nội trợ và bán hàng cho một gia đình ở thành phố Mậu Danh, ngày 25/9/2021 bị Công an Trung Quốc phát hiện. Ngày 22/02/2022, Nguyễn Thị M bị Tổng trạm kiểm tra biên phòng xuất, nhập cảnh tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc trao trả về Việt Nam.
Hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý phạm tội. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh” theo Điều 347 Bộ luật Hình sự.
Điều 347 Bộ luật hình sự quy định:
“Người nào xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc ở lại Việt Nam trái phép, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, phần nào đó ảnh hưởng đến mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các quốc gia khác và gây khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc quản lý công dân, do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người lao động thuần túy, xuất cảnh ra nước ngoài chỉ nhằm mục đích kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình, có nơi cư trú rõ ràng, hiện đang phải nuôi mẹ già và con nhỏ, phạm tội ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội, xử phạt bị cáo hình phạt tiền cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống, phòng ngừa tội phạm nói chung.
Đối với người đàn ông ngày 17/7/2020 đưa bị cáo vượt biên giới quốc gia trái phép tại khu vực thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và người đàn ông ngày 23/7/2021 đưa bị cáo vượt biên giới quốc gia trái phép từ thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng sang Trung Quốc, quá trình điều tra bị cáo khai không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 347; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35, Điều 50 Bộ luật hình sự; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 20/7/2023. Nơi nhận:
| - TANDCC, VKSNDCC tại Hà Nội; - Người tham gia tố tụng; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Cục THADS tỉnh Thái Bình; - Cơ quan CSĐT, Cơ quan THAHS Công an tỉnh Thái Bình; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Tuấn Vương |