vanban.org

Bản án 49/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hậu Giang Tuyên án 17/07/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 18/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HS-PT
Ngày 17 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Lâm.

Các Thẩm phán:

Ông Võ Thái Sơn.

Ông Hồ Hữu Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ánh Trúc - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Hứa Minh Thạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 40/2023/TLPT-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Huỳnh Văn S do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2023/HS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Huỳnh Văn S, sinh năm 1978, tại: Huyện C, tỉnh Hậu Giang. Nơi cư trú: Ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn L (chết) và bà Phạm Thị Bạch V; sống chung như vợ chồng với chị Phan Thị D và có 04 người con; tiền án: 03 (Bản án số 16/2018/HS-S ngày 18/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 26/4/2019 và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án; Bản án số 14/2020/HS-ST ngày 04/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 11/02/2021 và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án; Bản án số 17/2022/HS-ST ngày 28/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 27/7/2022, chưa chấp hành xong các quyết định khác của bản án); tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 176/2014/HS-ST ngày 04/9/2014 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 19/12/2015 và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án); bị tạm giữ từ ngày 18/11/2022 đến ngày 25/11/2022 chuyển tạm giam cho đến nay. (Có mặt)

Ngoài ra còn có bị cáo Nguyễn Văn T, 03 bị hại và 06 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ, ngày 18/11/2022, Huỳnh Văn S điều khiển xe mô tô, biển số: 65H7-9877 đến nhà Nguyễn Văn T để rủ đi trộm cắp tài sản thì T đồng ý. Sau đó, T và S điều khiển xe mô tô, biển số: 65H7-9877 đi tìm tài sản để trộm và chạy trên đường lộ nông thôn kênh 8 ngàn thuộc địa bàn xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Khi đi đến ngã 4 kênh 9 Thước thuộc ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang thì T, S phát hiện tài sản là hai (02) điện thoại di động gồm: một (01) điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A20S và một (01) điện thoại di động hiệu VIVO V2026 của Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thị Kim D1 để trên cái bàn tròn bằng gỗ trước cửa nhà của D1. Lúc này, T xuống xe còn S quay đầu xe lại và giả vờ hỏi, nói chuyện với D1 để đánh lạc hướng, T đi vòng vào cửa phía sau quán nước dùng tay lấy trộm 2 cái điện thoại bỏ vào túi quần và đi ra xe. Khi lấy được tài sản, S chở T chạy thẳng đến cửa hàng mua bán điện thoại “T” địa chỉ: đường M, phường A, Quận N, TP . để bán nhưng chưa kịp bán thì bị Công an kiểm tra, phát hiện T và S thừa nhận trộm cắp tài sản nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

- Một (01) điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A20S, số IMEI 1: 353248117106946; số IMEI 2: 35324911706944.

- Một (01) điện thoại di động hiệu VIVO V2026, số IMEI 1: 861177051683773; số IMEI 2: 861177051683756 đã qua sử dụng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐ.ĐGTS, ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện V, tỉnh Hậu Giang kết luận:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A20S, số IMEI 1: 353248117106946; số IMEI 2: 35324911706944 đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm tài sản bị xâm hại (ngày 18/11/2022) là: 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO V2026, số IMEI 1: 861177051683773; số IMEI 2: 861177051683756 đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm tài sản bị xâm hại (ngày 18/11/2022) là: 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng).

Tổng giá trị tài sản là: 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng).

Ngoài ra, Nguyễn Văn T khai nhận đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản khác, Huỳnh Văn S khai nhận ngày 04/11/2022 thực hiện 01 vụ trộm khác tại nhà số F, khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. Ngày 07/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ban hành công văn số 247 gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C, thành phố Cần Thơ về việc giải quyết nguồn tin tội phạm đối với Huỳnh Văn S. Ngày 18/01/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C, thành phố Cần Thơ ban hành công văn số 39 về việc tiếp nhận nguồn tin tội phạm và giải quyết nguồn tin về vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 04/11/2022 tại khu vực T, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2023/HS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn S 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 18/11/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T; phần trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 19/5/2023, bị cáo Huỳnh Văn S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn S, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Huỳnh Văn S có đơn kháng cáo. Xét đơn kháng cáo của bị cáo phù hợp với quy định tại các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên chấp nhận đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Văn S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm. Đối chiếu lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 18/11/2022, tại ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang, Huỳnh Văn S và Nguyễn Văn T đã cùng nhau thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 02 điện thoại di động của các bị hại Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thị Kim D1. Theo kết luận định giá tài sản tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3.500.000 đồng. Với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện và giá trị tài sản chiếm đoạt, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Văn S và bị cáo không có kháng cáo là Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Văn S, Hội đồng xét xử xét thấy: Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo đầy đủ tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 24 (hai mươi bốn) tháng tù là tương xứng. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo nhưng cũng không có tình tiết giảm nhẹ mới để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo không được Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 347; điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 18/11/2022.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để bảo đảm thi hành án.

Về án phí: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ