- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Đinh Văn H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25- 9- 2023 “V/v: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Nhất.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Y Dhiễu Hmok
2. Ông Bùi Ngọc Khánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến- Thư ký Toà án nhân dân thị xã B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Phi Hải; chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 169/2023/TLST- HNGĐ, ngày 27 tháng 6 năm 2023 về việc: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40A/2023/QĐXXST- HNGĐ, ngày 17 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 80/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 07 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn C, xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Anh Đinh Văn H, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn C, xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Chị H và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Thời gian đầu hai người chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân trong quá trình chung sống thường xuyên cãi vã và bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong gia đình nên cuộc sống tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, không có hạnh phúc nên chị H không còn tình cảm và không muốn tiếp tục chung sống với anh H nữa. Hiện hai người đã sống ly thân từ tháng 12/2022 cho đến nay. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung là cháu: Đinh Thu H, sinh ngày 25 tháng 4 năm 2019. Hiện nay cháu H đang sống cùng với chị H. Nay ly hôn, chị H có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoài đến tuổi trưởng thành.
- Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình điều tra thu thập tài liệu chứng cứ, mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H là bị đơn lẩn tránh, không hợp tác nên không ghi nhận ý kiến của bị đơn về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng như không tiến hành hòa giải được đối với các đương sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 về thẩm quyền của Tòa án; Điều 191, Điều 195 và Điều 196 về thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện, thụ lý vụ án và Thông báo thụ lý vụ án, Điều 203 về thời hạn chuẩn bị xét xử và Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa: Tại phiên toà, HĐXX thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của các đương sự, của nguyên đơn. Bị đơn vi phạm Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự, bị đơn (Không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án).
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Đinh Văn H; Về con chung: Giao cháu Đinh Thu H, sinh ngày 25 tháng 4 năm 2019 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu H đến tuổi trưởng thành. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu nên không đề cập giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Việc Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với bị đơn đến để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn không có mặt. Vì vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải, công khai chứng cứ đối với các đương sự được.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai phải có mặt tại phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, chị H khai nhận quá trình chung sống thời gian đầu hai người sống hạnh phúc đến năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân trong quá trình chung sống thường xuyên cãi vã và bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong gia đình nên cuộc sống tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, không có hạnh phúc nên chị H không còn tình cảm và không muốn tiếp tục chung sống với anh H nữa. Hiện vợ chồng đã sống ly thân từ thấng 12/2022 cho đến nay. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu do được ly hôn với anh H.
Như vậy, có đủ căn cứ để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ly hôn giữa chị H và anh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị H và anh H có 01 con chung là cháu Đinh Thu H, sinh ngày 25 tháng 4 năm 2019, hiện tại chị H trực tiếp nuôi dưỡng và chị H có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung là có căn cứ cần chấp nhận theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57 và các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị H.
Chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Đinh Văn H.
- Về con chung: Giao cháu Đinh Thu H, sinh ngày 25 tháng 4 năm 2019 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét giải quyết.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung nên các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tạm ứng theo biên lai số: 0018616 ngày 26 tháng 6 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND thị xã B; - Chi cục THADS thị xã B; - UBND xã B - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Bá Nhất |