- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Thạch Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 8 -2023 “V/v tranh chấp ly hôn, quyền nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Kim Triều
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Cao Minh Sơn
2. Bà Thạch Thị Mỹ Kim
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hồng Vân, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ P - kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 28/2023/TLST-HNGĐ ngày 13/02/2023 “về việc tranh chấp ly hôn, quyền nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/8/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Thạch Thị L, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
2. Bị đơn: Ông Tô Thái M, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Thạch Thị L trình bày và yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: vào năm 2003 bà và ông Tô Thái M có tìm hiểu và quen nhau sau đó được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố T. Trong thời gian chung sống hạnh phúc bà và ông M có 01 con chung tên Tô Yến N, sinh ngày 31/5/2007. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc cho đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông M thường xuyên đi nhậu không lo phụ giúp gia đình, bà đã nhiều lần khuyên ngăn, nhẫn nhịn nhưng ông M không thay đổi nên bà đã về nhà cha mẹ ruột tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh sinh sống cho đến nay. Hiện nay, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau, mỗi người có cuộc sống riêng. Bà xác định không còn tình cảm với ông M và yêu cầu được ly hôn với ông M.
- Về con chung: bà và ông M có 01 con chung tên Tô Yến N, sinh ngày 31/5/2007 bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu ông M phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Tô Thái M vắng mặt nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 26/7/2023 trình bày và yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: ông và bà Thạch Thị L chung sống với nhau vào năm 2003 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố T. Trong quá trình chung sống ông và bà L có 01 con chung tên Tô Yến N, sinh ngày 31/5/2007. Ông cho rằng giữa ông và bà L không có mâu thuẫn gì trầm trọng nhưng vào năm 2019 thì bà L đã tự ý bỏ nhà đi. Theo ông được biết thì hiện nay bà L đã chung sống với người đàn ông khác và cũng đã có con với người đàn ông đó. Nay bà L yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý vì ông không có lỗi do bà L tự ý bỏ nhà đi. Tuy nhiên, ông cũng không muốn hàn gắn để đoàn tụ gia đình vì bà L đã có con với người đàn ông khác.
- Về con chung: Tô Yến N, sinh ngày 31/5/2007 ông yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu bà L phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: ông và bà L không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Con chung cháu Tô Yến N trình bày và có yêu cầu như sau: cháu là con của mẹ Thạch Thị L và cha Tô Thái M. Sau khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được sống chung mẹ Thạch Thị L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh phát biểu quan điểm việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán về việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Việc nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Thạch Thị L, Hội đồng xét xử nhận thấy: bà Thạch Thị L và ông Tô Thái M tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông M là hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, qua lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy cuộc hôn nhân của bà L và ông M không thể hàn gắn do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, người nào chỉ lo bổn phận người đó, bỏ mặt nhau sống sao thì sống, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà L là có cơ sở chấp nhận và phù hợp với các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: bà Thạch Thị L và ông Tô Thái M có 01 con chung tên Tô Yến N, sinh ngày 31/5/2007. Bà L cho rằng con Tô Yến N đang sống chung với bà nên bà yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, từ trước đến nay bà L vẫn đảm bảo nuôi dạy con tốt. Do đó, chấp nhận yêu cầu của bà L, giao con tên Tô Yến N cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu N.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã giải thích cho bà L biết về việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật nhưng bà L không đưa ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra xem xét giải quyết. Tuy nhiên trong quá trình nuôi con, nếu có phát sinh tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con thì theo quy định tại Điều 119 Luật hôn nhân gia đình, vì bảo vệ quyền lợi của các con chung, bà L có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con trong một vụ kiện khác.
Về tài sản chung và nợ chung: bà Thạch Thị L và ông Tô Thái M khai không có nên không đặt ra giải quyết. [5] Về án phí: bà Thạch Thị L phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, 56, 57, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Thạch Thị L.
1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa bà Thạch Thị L và ông Tô Thái M.
2. Về con chung: Giao con chung tên Tô Yến N, sinh ngày 31/5/2007 cho bà Thạch Thị L được tiếp tục nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về cấp dưỡng nuôi con: bà Thạch Thị L không đưa ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra xem xét giải quyết. Khi nào bà L có yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì được quyền khởi kiện trong một vụ kiện khác.
3. Về tài sản chung và nợ chung: bà Thạch Thị L và ông Tô Thái M khai không có nên không đặt ra giải quyết. 4. Về án phí: bà Thạch Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã tại biên lai thu tiền số: 0013383 ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh nên bà L không phải nộp thêm.
5. Án sơ thẩm xét xử công khai báo cho các đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND TP.Trà Vinh; - Chi cục THADS TP.Trà Vinh; - Các đương sự; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Huỳnh Kim Triều |