vanban.org

Bản án 49/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Xuân Hương - Trần Anh Tuấn"
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:49/2023/HNGĐ – ST
Ngày: 31/7/2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH – TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Ông Trần Quốc Hay

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tấn Thịnh

2. Bà Nguyễn Thị Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Nữ Thanh Hường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Khánh – Kiểm sát viên. Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 78/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2023; giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Xuân H- Sinh năm: 1991

Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2/ Bị đơn: Ông Trần Anh T - Sinh năm: 1991

Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Bùi Thị Xuân H trình bày: Bà H và ông T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn nhưng đến năm 2021 đã ly hôn. Năm 2022, bà H và ông T kết hôn lại và được Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 88 ngày 21/7/2022.

Thời gian đầu sống chung với nhau hạnh phúc nhưng từ tháng 12/2022 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T nghiện ma tuý, không tu chí làm ăn; ngoài ra còn chơi cá độ bóng đá, tiền bạc làm ra đều sử dụng vào mục đích ăn chơi của ông T mà không chăm lo cho gia đình. Từ tháng 02/2023 đến nay, bà H và ông T đã sống ly thân.

Về con chung: Bà H và ông T có 02 con chung là Trần Bùi Thiên A, sinh ngày: 20/10/2019 và Trần Bùi Hoài Y, sinh ngày: 05/11/2022. Bà H yêu cầu Toà án giao con cho bà trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa bị đơn ông Trần Anh T vắng mặt và trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông T cũng không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn bà Bùi Thị Xuân H.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án ý kiến của nguyên đơn, ý kiến đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Bị đơn ông Trần Anh T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, Tòa án căn cứ theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Bùi Thị Xuân H vắng mặt, tuy nhiên bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[2] Về nội dung vụ án

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Xuân H và ông Trần Anh T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn nhưng đến năm 2021 đã ly hôn. Năm 2022, bà H và ông T kết hôn lại và được Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 88 ngày 21/7/2022 nên xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống: Bà H xác định thời gian đầu vợ chồng sống chung với nhau hạnh phúc, tuy nhiên từ tháng 12/2022 thì phát sinh mâu thẫn. Nguyên nhân chính là do ông T nghiện ma tuý, không tu chí làm ăn; ngoài ra còn chơi cá độ bóng đá, không có trách nhiệm với gia đình. Bà H và ông T đã ly hôn vào năm 2021, đến năm 2022 kết hôn lại nhưng cuộc sống hôn nhân của bà H và ông T vẫn không hạnh phúc. Từ tháng 02/2023 đến nay ông T và bà H không còn sống chung với nhau nữa. Toà án tiến hành xác minh nguyên nhân mâu thuẫn của bà H và ông T nhưng địa phương không nắm rõ. Căn cứ vào lời khai của bà H và việc ông T từ chối đến Tòa theo triệu tập của Tòa án để giải quyết yêu cầu ly hôn của bà H cho thấy ông T không quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông T đã đến mức trầm trọng, có kéo dài để sống chung thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Xuân H đối với ông Trần Anh T.

[2.2] Về con chung: Bà H xác định bà và ông T có 02 con chung là Trần Bùi Thiên A, sinh ngày: 20/10/2019 và Trần Bùi Hoài Y, sinh ngày: 05/11/2022. Bà H yêu cầu Tòa án giao con cho bà trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn.

Xét thấy, sau khi ly hôn việc giao con chưa thành niên cho người nào trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là nhằm mục đích giúp con chưa thành niên phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Từ trước đến nay, 02 cháu A và Y sống chung với bà H và được chăm lo đầy đủ về ăn uống, sinh hoạt; theo lời khai của bà H thì ông T là người nghiện ma tuý, không có công việc làm ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H về việc giao 02 con chung là Thiên A và H cho bà trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Bùi Thị Xuân H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Khoản 4 Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự và Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Xuân H, cụ thể như sau:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Xuân H được ly hôn với ông Trần Anh T.

1.2. Về con chung: Giao 02 (hai) cháu Trần Bùi Thiên A, sinh ngày: 20/10/2019 và Trần Bùi Hoài Y, sinh ngày: 05/11/2022 cho bà Bùi Thị Xuân H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn. Bà H không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn vì quyền lợi của con, các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con; người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. 2. Về án phí: Bà Bùi Thị Xuân H phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Bà H đã nộp 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai số AA/2022/0000536 ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Như vậy, bà Bùi Thị Xuân H còn phải nộp 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. 3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ