vanban.org

Bản án 49/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 18/07/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Đào Văn S.

[2]. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Đào Gia B, sinh ngày 25/10/2014. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H do chị H tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng. Anh S có quyền, nghĩa vụ trông nom, thăm nom, chăm sóc,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị H - Đào Văn S - Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Đào Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HNGĐ-ST
Ngày 18 tháng 7 năm 2023
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Dũng;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;

Bà Nguyễn Thị Phẩm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Tổ 7, khu Liên M, phường Minh Phương, thành phố Việt T, tỉnh Phú Thọ.

2. Bị đơn: Anh Đào Văn S, sinh năm 1993.

Hộ khẩu thường trú: Khu 5, xã Kim Đ, thành phố Việt T, Phú Thọ.

Hiện đang ở nước ngoài.

3. Ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan : Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Khu 5, xã Kim Đ, thành phố Việt T, tỉnh Phú Thọ.

(Chị Hoàng Thị H, bà Nguyễn Thị H1 vắng mă ̣t nhưng có đơn xin xét xử vắng mă ̣t. Anh Đào Văn S vắng mặt lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/3/2023 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày: Chị và anh Đào Văn S kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kim Đ, thành phố Việt T, tỉnh Phú Thọ ngày 02/10/2012. Thờ i gian đầu hai vợ chồng chung sống ha ̣nh phúc sau đến năm 2020 cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không được, hai vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay . Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị đề nghi ̣ ly hôn anh S để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị H xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Đào Gia B, sinh ngày 25/10/2014. Sau ly hôn chị đề nghị Tòa án cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu B, không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng.

Về tài sản chung, công nợ, công sứ c đó ng gó p của vợ chồng : Chị H xác định vợ chồng không có nên không đề nghi ̣ Tòa án giải quyết.

Về á n phi ly hôn sơ thẩm: Chị H xin tự nguyê ̣n chi ̣u toàn bô ̣.

́

Phía bị đơn: Anh Đào Văn S hiện đang ở nước ngoài thể hiện tại công văn số: 6854/QLXNC-P5 ngày 30/3/2023 của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ công an xác định anh S đa xuất cảnh ngày 06/5/2019, hiê ̣̃

n chưa có thông tin nhâ ̣p cảnh về nước . Do chị H không biết địa chỉ của anh S ở đâu tại nước ngoài nên Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của bà Nguyễn Thị H1 là mẹ của anh S và được bà H1 cung cấp như sau: Hiện tại anh S đang ở Nhật Bản địa chỉ cụ thể bà không biết. Nhưng bà và anh S vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại Zalo, Facebook, bà H1 đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh S và yêu cầu anh cung cấp địa chỉ của anh S ở nước ngoài, bà đã thông báo cho anh S biết xong anh S không cung cấp địa chỉ cho bà để cung cấp cho Tòa án. Thông qua điện thoại bà đã trao đổi nội dung chị H xin ly hôn anh S và anh S nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị H.

Về con chung: Bà H1 xác định vợ chồng chị H và anh S có một con chung là cháu Đào Gia B, sinh ngày 25/10/2014. Việc nuôi con chung là do chị H và anh S tự bàn bạc, thỏa thuận với nhau.

* Cháu Đào Gia Bảo có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về những nội dung sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung đề nghị hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị H ly hôn anh Đào Văn S.

Về con chung: Giao cháu Đào Gia B - Sinh ngày 25/10/2014 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đào Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Bị đơn anh Đào Văn S đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Kim Đ, thành phố Việt T, tỉnh Phú Thọ. Theo Công văn số: 6854/QLXNC-P5 ngày 30/3/2023 của Cục quản lý xuất n hập cảnh Bộ công an xác định anh S đa ̃ xuất cảnh ngày 06/5/2019, hiê ̣n chưa có thông tin nhâ ̣p cảnh về nướ c . Căn cứ khoản 3 điều 35, điểm a khoản 1 điều 37; điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Trong vụ án này anh S không có mặt ở Việt Nam nên Tòa án không tiến hành hòa giải được quy định tại khoản 2 điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng với quy định của pháp luật.

Chị H đề nghị xin ly hôn với anh S và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của anh S mà không cung cấp được địa chỉ anh S ở chỗ nào tại nước ngoài, Tòa án đã thông qua thân nhân của anh S là bà Nguyễn Thị H1 là mẹ của anh S thì thấy gia đình đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không biết địa chỉ cụ thể của anh S ở đâu tại nước ngoài, bản thân anh S không cung cấp địa chỉ mặc dù đã được bà H1 thông báo. Căn cứ công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn nên cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tại phiên tòa chị Hoàng Thị H, bà Nguyễn Thị H1 vắng mă ̣t nhưng có đơn xin xét xử vắng mă ̣t . Do vậy, Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H và anh Đào Văn S kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 02/10/2012 tại UBND xã Kim Đ, thành phố Việt T, tỉnh Phú Thọ, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị H và anh S có xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là quan điểm sống không hợp nhau, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S. Mặc dù anh S không có lời khai xong thông qua bà H1 là mẹ của anh S cung cấp quan điểm của anh S cũng nhất trí ly hôn với chị H. Do vậy, có căn cứ để xác định tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh S đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử cho chị H được ly hôn anh S là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị H và anh S có 01 con chung là cháu Đào Gia B, sinh ngày 25/10/2014. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu B, chị H không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng.

Xét thấy: Nguyện vọng của chị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Đào Gia B. Cháu B có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn, hiện anh S đang ở nước ngoài không ở Việt Nam. Vì vậy giao cháu Bảo cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H do chị H tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng là phù hợp.

Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo đối vớ i bản án : Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 56, điều 81, điều 82, điều 83 và điều 123 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 điều 35, điểm a khoản 1 điều 37; điểm a khoản 1 điều 39; khoản 2 điều 207; điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228; khoản 1, 2 điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Đào Văn S.

[2]. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Đào Gia B, sinh ngày 25/10/2014. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H do chị H tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng.

Anh S có quyền, nghĩa vụ trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

[3]. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không đặt ra xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí , lệ phí tòa án số: 0000481 ngày 10/4/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

[5]. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Đương sự có mặt tại Việt Nam có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đương sự cư trú ở nước ngoài có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ